SCP-3241
rating: +2+x

ship.png

Tàu SS Sommerfeld (khoảng năm 1995).

Vật Thể #: SCP-3241

Phân Loại: Keter

Thủ tục Quản thúc Đặc biệt: SARC1 tiếp tục phát triển chiến lược quản thúc an toàn và hiệu quả cho SCP-3241. Cho tới đó, các quy trình quản thúc SCP-3241 sẽ tập trung vào việc giảm thiểu, quan sát và ngăn cản tiếp xúc với bên ngoài.

Nhân sự sẽ hợp tác với JMSDF2 và các cơ quan hải quân và hàng không khác để thiết lập một khu vực không phận sự 75 ki-lô-mét bao quanh SCP-3241. Chỉ có các tàu do Tổ Chức vận hành mới được cho phép vào khu vực này. Các máy bay giám sát không người lái được triển khai hàng tuần vào SCP-3241 để quan sát tốc độ mở rộng của nó; nếu như tốc độ này thay đổi, Chỉ huy Quản thúc hiện tại của SCP-3241 sẽ được thông báo ngay lập tức.

Việc sử dụng các SRA3 trong khu vực không phận sự của SCP-3241 bị nghiêm cấm. Trong thời gian chờ hoàn thành điều tra về các sự kiện xảy ra vào ngày 5 tháng Mười, năm 2015, không nhân sự nào (thuộc Tổ Chức hoặc bộ phận khác) được cho phép vào SCP-3241 mà không có sự chấp thuận của O5.

Mô tả: SCP-3241 là một khối có hình dạng bất thường (có đường kính khoảng mười hai ki-lô-mét) tụ hợp trên tàu SS Sommerfeld (trước đây là SS Chávez). Nó thể hiện nhiều đặc tính dị thường về không gian, thời gian, phân tử, và sinh học. Mặc dù bản chất và mức độ nghiêm trọng của những dị thường này dao động không rõ ràng, chúng không mở rộng ra ngoài SCP-3241. SCP-3241 hiện đang giãn nở với tốc độ xấp xỉ bốn mét mỗi ngày.

Tàu SS Sommerfeld là một tàu chở hàng được đóng vào năm 1963 bởi Công ty Sun Shipbuilding & Drydock. Nó được sở hữu, tân trang, và đặt tên lại vào năm 1995 bởi DLS4 như một phần hợp đồng do Tổ Chức tài trợ để cung cấp một phương tiện vận chuyển cho các dị thường có mức rủi ro thấp hay các ontokineticist bị gây mê5 từ Điểm-97 đã ngưng hoạt động tới Điểm-82.

Vào năm 1998, con tàu bị mất tích với toàn bộ thủy thủ, dị thường và cả năm ontokineticist trên tàu. Một cuộc điều tra được tiến hành bởi Tổ Chức vào năm 1999 kết luận việc này là do một vi phạm quản thúc xảy ra giữa chặng vận chuyển, theo sau là việc triển khai thất bại hệ thống an toàn khẩn cấp của nó (gồm có sáu SRA được liên kết). Vào năm 2015, tàu SS Sommerfeld được phát hiện trôi dạt cách Đảo Odo hai trăm ki-lô-mét về phía tây. Điều này dẫn đến việc thành lập SARC để đánh giá sự xuất hiện đột ngột của SCP-3241 và phát triển một quy trình quản thúc an toàn và hiệu quả cho nó.

Vào năm 2018, bằng chứng mới được đưa ra liên quan đến việc có thể có hành vi phi pháp từ phía Daniel DeVorn và DLS. Một cuộc điều tra thứ hai đã được về các sự kiện năm 1998 và năm 2015. Bởi kết quả của cuộc điều tra này, tất cả các hợp đồng hiện tại và trong tương lai với DLS bị đình chỉ. Daniel DeVorn vẫn chưa bị bắt, và được định danh là PoI-3241-347.

Phụ Lục 3241.1: Việc mất SS Sommerfeld

Vào ngày 17 tháng Chín, năm 1998, tàu SS Sommerfeld rời cảng Jacksonville, Florida (Mĩ) tới Itaguaí, Rio de Janeiro (Brazil). Vào lúc 17:21 giờ UTC, lực lượng Tuần Duyên nhận được một tín hiệu từ EPIRB của tàu (Máy Tín hiệu Vô tuyến Báo Vị trí Khẩn cấp) phát ra gần trung tâm Đại Tây Dương (tọa độ 33.49°, -54.26°). Vào lúc 18:06 giờ UTC, EPIRB đã phát đi một tín hiệu khác trong vùng lân cận của dãy núi Sikhote-Alin (tọa độ 46.12°, 136.96°). Vào lúc 18:55 giờ UTC, vệ tinh COSPAS-SARSAT nhận được đường truyền cuối cùng từ máy tín hiệu; vị trí cuối cùng của nó không thể xác định được nữa. Tất cả nỗ lực để thiết lập liên lạc sau đó đều thất bại.

Các nỗ lực khôi phục ban đầu bị cản trở bởi Bão Georges, không thể xác định vị trí của tàu SS Sommerfeld, và những người đại diện của DLS đã khẳng định sai với các viên chức của Tổ Chức rằng con thuyền không bị mất tích mà chỉ đơn thuần là bị cản trở do điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Daniel DeVorn đã bào chữa cho quyết định này trong cuộc điều tra năm 1999 như sau:

Máy tín hiệu của nó đã gửi một tín hiệu, nhưng các tọa độ ở khắp nơi. Chúng hoàn toàn chẳng có nghĩa cả. Trước đây chúng tôi đã từng gặp lỗi báo hiệu sự cố — vậy nên chúng tôi cho rằng nó bị trục trặc. Chúng tôi không thể thiết lập liên lạc qua radio để xác nhận do Bão Georges. Nhưng sau ba tiếng đồng hồ không có gì cả, chúng tôi nhận ra có gì đó không ổn.
Đó là lúc tôi đã thực hiện cuộc gọi. Chính tôi đã gọi Jack6. Tôi đã nói với anh ấy có gì đó không ổn. Tôi đã nói với anh ấy tàu Sommerfeld đã mất tích.

Sau khi tàu SS Sommerfeld được tuyên bố là mất tích, Tổ Chức đã ngay lập tức tổ chức một chiến dịch tìm kiếm và giải cứu chung với sự giúp đỡ từ UNDAC (Nhóm Điều phối và Đánh Giá Thiên Tai Liên Hợp Quốc), GOC (Liên minh Huyền bí Toàn Cầu), Lực lượng Tuần duyên, Không Quân, Vệ Binh Quốc Gia, và Hải Quân Hoa Kỳ. Các nỗ lực tìm kiếm tập trung vào tuyến đường dự đoán của con tàu và hai tọa độ được phát ra từ máy tín hiệu khẩn cấp của nó. Sau cuộc điều tra tập trung kéo dài sáu tháng, không có dấu vết nào của tàu SS Sommerfeld được tìm thấy.

Phụ Lục 3241.2: Điều tra Ban đầu

Trong cuộc điều tra ban đầu năm 1999, Daniel DeVorn đã giải đáp các câu hỏi liên quan đến khả năng sự biến mất của tàu SS Sommerfeld xảy ra do có lỗi trong hệ thống SRA khẩn cấp của nó.

Nghe này, điều đó — nghe này, tôi không muốn phải thô lỗ đâu, nhưng chúng thật vô căn cứ. Chúng hoàn toàn vô căn cứ. Các SRA của chúng tôi có thành tích trong quá khứ gần như là hoàn hảo. Chúng đã được sử dụng rộng rãi khắp Tổ Chức. Chúng chịu trách nhiệm trực tiếp ngăn ngừa tai họa hàng ngày. Chúng cứu mạng người, từng ngày đấy. Và mỗi ngày chúng tôi lại đang phát triển các SRA tốt hơn, chi phí thấp hơn.
Những gì xảy ra với tàu SS Sommerfeld thật đáng tiếc, nhưng nó không liên quan gì đến hệ thống an toàn khẩn cấp của chúng tôi. Điều đã xảy ra là — tôi không muốn phải đổ lỗi cho mấy người cả. Tôi chắc rằng chúng đã thực hiện tốt. Tôi đã làm việc đủ lâu với mấy người để biết các người chỉ tuyển tốt nhất trong những gì tốt nhất. Nhưng tôi muốn chỉ ra rằng mấy người liên tục từ chối cho các nhân viên kỹ thuật DLS tại chỗ để cung cấp hỗ trợ kỹ thuật lập tức. Mấy người sẽ không để bọn tôi đưa bất kỳ nhân sự nào của bọn tôi lên con tàu đó. Mấy người cũng có bản ghi của — các thủ tục của mấy người có bản ghi sai lệch so với sổ tay vận hành SRA. Cuốn sổ tay tồn tại là có lý do. Chúng tôi viết nó cũng có lý do. Nếu các người làm theo nó, chúng sẽ hoạt động tốt.
Bi kịch thật sự là điều này có thể được ngăn ngừa. Nếu như Tổ Chức đã sẵn lòng cho một trong các kỹ thuật viên DLS của bọn tôi lên tàu Sommerfeld, tôi đảm bảo rằng họ đã có thể triển khai các SRA một cách chính xác. Nếu như Tổ Chức trả tiền cho — nếu như các người sẵn sàng dành thời gian dành thời gian và để các kỹ thuật viên của bọn tôi đào tạo nhân sự của mấy người, hay thậm chí đọc sổ tay hướng dẫn của bọn tôi, tôi chắc chắn chúng ta sẽ chẳng có cuộc đối chất này.

Giáo sư Zora Tschetter (một nhà vật lý cao cấp đã rời Tổ Chức để làm việc cho DLS với tư cách chuyên viên tham vấn) đã chứng thực cho luận điệu của Daniel DeVorn:

Tôi sẽ chẳng bao giờ hiểu cho việc phủ nhận các SRA. Không bao giờ. Chúng tôi có — chúng tôi có thiết bị nhỏ kỳ diệu này, phép màu tuyệt diệu này có thể biến đổi ngay cả những tên bẻ cong hiện thực dữ tợn nhất thành một bé mèo con. Trước đây, điểm hạn chế duy nhất của chúng là chi phí sản xuất và nhu cầu bảo trì quá cao. Nhưng bây giờ? Chúng rẻ, có thể tự sửa, và hiệu nghiệm hơn gấp vạn lần.
Tôi đã làm việc với chúng cả thập kỷ. Chúng đã cứu mạng tôi nhiều lần đến mức tôi không đếm được. Nếu bây giờ tôi yêu cầu mọi người giơ tay ngay lúc này, ngay trong căn phòng này — đã bao nhiêu trong số mọi người được cứu bởi một SRA — tôi sẽ rất sốc nếu chỉ thấy một cánh tay giơ lên. Thật sự đấy.
Điều xảy ra với tàu SS Sommerfeld thật tồi tệ. Trái tim tôi tưởng niệm tới các nạn nhân. Nó là sự thật. Nhưng các SRA của chúng tôi đã được thử nghiệm hết lần đến lần khác. Chúng tôi có thể giải thích mọi thứ — mọi thứ ngoại trừ nếu đó là do sai sót của con người.

Một ý kiến phản đối đến từ Giáo sư Sherman Sivori, một nhà vật lý cao cấp nổi tiếng của Tổ Chức bày tỏ sự hoài nghi đối với các SRA:

Được rồi, cho các tân binh biết, chúng không hề có thành tích "hoàn hảo" cả. Tất cả đều là một đống dối trá. Chúng có một điểm khá là bất thường, thật ra — là nhất luôn ấy. Kha khá số lần, bọn tôi còn chẳng thể xác định được chúng có thất bại không. Bởi vì mỗi khi chúng làm vậy, thực tại sẽ lại được viết lại.
Các SRA xử lý bẻ cong hiện thực như là một trường hình thái. Chúng cho là các trường này có thể "được hiệu chỉnh" — rằng ta có thể 'không bẻ cong' hiện thực, và đảo ngược các dị thường về trạng trái 'bất dị thường'. Nói tóm lại, các SRA coi như là các dị thường trở thành một phần của một hệ thống lớn hơn. Một hệ thống mà chúng ta hiểu và có thể kiểm soát.
Nhưng điều gì khiến một cái gì đó dị thường? Theo định nghĩa của nó, nó là cái gì đó không phù hợp. Thứ gì đó ta không thể kiểm soát. Chúng ta nghĩ là chúng ta đã tìm ra cách để ngăn chặn bẻ cong hiện thực, nhưng tất cả những gì chúng ta thật sự tìm ra là một loại bẻ cong hiện thực đủ mạnh để vượt qua những cái khác.
SRA là một con hổ mà chúng ta sử dụng để thuần hóa các con hổ khác. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã thuần hóa nó. Chúng ta nghĩ rằng nó là thú cưng của chúng ta. Nhưng một con hổ thú cưng vẫn là một con hổ. Ta có thể nhốt nó, huấn luyện nó, dạy nó mấy trò dễ thương — nhưng nó vẫn là một con hổ. Nó vẫn có móng vuốt. Nó vẫn có răng nanh. Và chúng ta đã bao vây chính mình với chúng.
Chúa cứu rỗi tất cả chúng ta nếu chúng trở nên hoang dã.

Phục Lục 3241.3: Sự Mất mát và Tìm lại của tàu IRV Silent Spring

carson.png

IRV Silent Spring (circa 2004).

Vào ngày 12 tháng Tám, năm 2015, tàu IRV Silent Spring đã bị mất liên lạc. Con tàu đang thực hiện một cuộc khảo sát hải dương học đại diện cho ngành đánh cá của Đảo Odo để xác định nguyên nhân đằng sau sự thay đổi mạnh mẽ gần đây của loài Seriola quinqueradiata (hay còn gọi là Amberjack, hoặc cá đuôi vàng). Các nỗ lực ban đầu để xác định vị trí của con tàu không thành công; hệ thống tiếp sóng của nó không phản hồi hoặc nằm ngoài phạm vi phản hồi.

Ba ngày sau, Sân bay Quốc tế Kansai chặn được tín hiệu khẩn cấp từ EPIRB của tàu IRV Silent Spring. Sau nhiều lần thất bại trong việc cố gắng thiết lập liên lạc, các nhà chức trách Nhật Bản đã cho triển khai tàu ERRV Koyo Maru để điều tra. Nỗ lực này đã phải hoãn lại khi bộ máy cảm biến bức xạ trên tàu (được lắp đặt sau sự cố Nhà máy điện Fukushima I năm 2012) phát hiện một lượng bức xạ ion hóa nhỏ, nhưng đáng kể từ con tàu. Các nhà chức trách Nhật Bản sau đó đã liên hệ với Tổ Chức, bên đã huy động ĐĐNCĐ Theta-5 ("Con Thuyền Lớn Hơn") cùng với Beta-7 ("Thợ May Mũ Maz") để đưa tàu IRV Silent Spring vào cuộc.

Miguel Quiñones (Chỉ huy tác chiến của ĐĐNCĐ Beta-7 tại thời điểm đó) đã mô tả trải nghiệm của anh với con tàu trong cuộc điều tra năm 2018 như sau:

Vậy là, khi lực lượng JMSDF gọi cho chúng tôi, bọn tôi cứ tưởng nó chỉ là Ông Già Jenkins7 được dựng lên. Xảy ra khá là nhiều. Một số viên chức mới được thăng cấp hoảng sợ, hoặc cố gắng vứt tai họa của bọn họ cho chúng tôi xử lý. Chúng tôi thậm chí đã gặp một vài trường hợp có người cố biến một vấn đề hết sức bình thường thành trông giống dị thường. Có lần, tôi nghe một gã thậm chí
phải rồi, xin lỗi. Dù sao đi nữa, bọn tôi khá chắc chắn rằng bọn tôi sẽ tìm thấy một con cá voi chết bị mắc kẹt trong một cái phao hay gì đó. Dù vậy, bọn tôi vẫn tuân thủ quy trình. Con người có thể bị giết chết bởi sự tự mãn. Ta học bài học đó vào ngày đầu tiên. Đến đó theo chiều gió thổi để giảm thiểu tiếp xúc. Đó cũng là một điều tốt. Chỉ riêng mùi hôi thối cũng có thể khiến tất cả bọn tôi phải dừng lại.
Nó chắc chắn không phải là một con cá voi. Nhưng nó cũng chẳng giống một con thuyền nữa. Nó giống như là… giống như một đống bầy nhầy thịt thối rữa khổng lồ. Một tảng thịt mềm xốp đang trôi nổi.
Snoopy8 thu được một số sóng tĩnh, nhưng không nhiều. Bọn tôi vẫn thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa. Bọn tôi cũng làm thêm vài việc nữa, chỉ để đảm bảo thôi. Chúng tôi Bọn tôi không hề biết rằng bọn tôi đang nhìn vào cái gì. Bọn tôi thậm chí còn không biết ở đó có, ờm — người? — bọn tôi không hề biết có, ừm, ai đó ở đó không. Bọn tôi chỉ móc nó vào và chở nó đi thôi. Rồi mấy gã mặc áo thí nghiệm sẽ giải quyết nó thôi.

barnacles.png

Boong tàu IRV Silent Spring ngay sau khi được thu hồi.

Tàu IRV Silent Spring đã được tạm thời vận chuyển đến một điểm lâm thời để quản thúc và đánh giá. Các chuyên viên nghiên cứu sớm phát hiện ra trước đây nó chứa một cụm hơn ba trăm loài vi sinh vật không xác định. Bất chấp độ phức tạp và tính chức năng không phụ thuộc lẫn nhau đáng kinh ngạc của hệ vi sinh vật này, một sự kiện tiêu hủy hàng loạt đã diễn ra trước khi nó được thu hồi.

Bề ngoài của con tàu được bao bọc bằng một đàn động vật chân khớp rất nhỏ đã chết. Các cục bướu canxi cácbonát trũng sâu đùn ra khỏi bề mặt con tàu tại nhiều điểm; các cuộc nghiên cứu bằng nội soi và siêu âm xác định rằng chúng mở rộng ra khắp thân tàu như một phần của hệ thống hô hấp chưa hoàn chỉnh. Các khoang lớn bên trong của mô co giãn có thể phồng ra và co lại để điều chỉnh luồng không khí.

Trong lúc giải phẫu, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra trắc địa bên trong con tàu được liên thông bởi một hệ thống mạch phức tạp gồm hệ thống ống mỏng, mềm dẻo chịu trách nhiệm tuần hoàn các chất dinh dưỡng và đào thải các chất thải. Các ống này xâm nhập vào thủy thủ đoàn của tàu IRV Silent Spring. Mỗi hệ thống thần kinh trung ương của thành viên đoàn thủy thủ đều bị tách ra một phần và hợp nhất thành một khối thần kinh độc nhất kết hợp với hệ thống mạch máu, cung cấp glucôzơ và ô-xi mô não. Không thể xác định mục đích hay chức năng của khối thần kinh đông tụ này.

Mô-đun chứa EPIRB và VDR (Máy ghi Dữ liệu Hành trình) của tàu IRV Silent Spring được tìm thấy trong tình trạng còn nguyên vẹn; hệ vi sinh vật không thể thâm nhập qua lớp vỏ bên ngoài của nó. Tuy nhiên, việc tiếp xúc thường xuyên với bức xạ i-on hóa đã làm hỏng bộ nhớ trong của thiết bị, khiến nó không thể khôi phục được.

Trong khi truy vết tuyến đường ban đầu của tàu IRV Silent Spring, một tàu ngầm của Tổ Chức (tàu SCPF Stravinsky) đã chạm trán với một tàu chở hàng trôi dạt hai trăm ki-lô-mét về phía tây của Đảo Odo, Nhật Bản. Con tàu không có AIS (Hệ thống Nhận dạng Tự động), không phản ứng với các tín hiệu, và tỏa ra một lượng bức xạ ion hóa đáng kể. Tàu SCPF Stravinsky triển khai một máy bay giám sát không người lái Loại Panopticon về phía con tàu. Trước khi xảy ra sự cố máy móc không thể giải thích được, hình ảnh kỹ thuật số của máy bay đã đã xác nhận các đặc điểm của con tàu trùng khớp với tàu SS Sommerfeld.

ship2.png

SCP-3241 (khoảng năm 2015). Hình ảnh được trích xuất từ máy bay giám sát không người lái trước khi gặp sự cố máy móc.

Phụ Lục 3241.4: Phản ứng Ban đầu

Vào ngày 26 tháng Mười, SARC đã được tập hợp để đánh giá mức độ đe dọa của tàu SS Sommerfeld và phát triển phương thức quản thúc hiệu quả cho nó. Bryan Browning, cựu đặc vụ thực địa của Tổ Chức và là Giám Đốc Điểm trước đây của Điểm-97, đã được chỉ điịnh làm Giám Đốc Quản Thúc.

Việc quan sát gần tàu SS Sommerfeld là tất cả nhưng bất khả thi do các đặc tính dị thường của nó; các máy bay giám sát không người lái được gửi vào vùng ảnh hưởng của nó gặp hàng loạt vấn đề máy móc. Để có thể thu thập thêm dữ liệu, Giám Đốc Browning đã ra lệnh trưng dụng một vài SRA từ DLS và yêu cầu trang bị chúng vào trong SCPF Stravinsky. Tàu ngầm phải tiếp cận SCP-3241 dưới lớp vỏ bao bọc bởi một trường hình thái và nỗ lực thu hồi VDR của nó.

Một vài thành viên của thủy thủ đoàn tàu SCPF Stravinsky phản bác lệnh của Giám Đốc Browning. Nhóm này bao gồm Sĩ quan Hành pháp của con tàu, Leslie Horton. Cô thanh minh về quyết định của mình vào năm 2018:

Browning vẽ ra hình ảnh bọn tôi như là một đám phản bội đang cố gắng làm loạn, nhưng đứa nào mà có đầy mình kinh nghiệm về quân sự cũng sẽ bảo rằng có một thế giới khác biệt giữa "Khai hỏa" và "Đi tới chỗ kẻ thù và véo mũi hắn trong khi chiếc hộp thần kỳ này sẽ bảo vệ ta". Ngoài ra, đây còn không phải là chiến dịch quân sự cơ. Chẳng có mối đe dọa hiện hữu nào cả. Bọn tôi có quyền được nghỉ làm việc vì an toàn của bọn tôi. Và đó là quyết định đúng đắn mà bọn tôi đã làm.
Với cả, Giáo sư Bakshi cũng là lý do tại sao. Bakshi đã trải nghiệm với các SRA — trải nghiệm thực tế — và anh ấy không tin tưởng chúng. Anh ấy nói với Browning rằng kế hoạch của ông ta sẽ đặt chúng tôi vào hiểm nguy. Khi Browning bảo anh ấy biến đi, Bakshi đã đến chỗ bọn tôi ngay lập tức. Anh ấy giải thích những thứ đó — các SRA — anh ấy nói với bọn tôi chúng không đáng tin. Mô tả nó giống như dập lửa bằng một khẩu súng phun lửa. Đôi khi nó có hiệu quả, và đôi khi mình sẽ chỉ thiêu rụi cả vùng lân cận chết tiệt. Ít nhất, nó đã thuyết phục được tôi.
Browning đã điên tiết lên. Cứ nói mấy thứ huênh hoang, rỗng tuếch về việc Bakshi không biết gì về điều đầu tiên trong công việc thực địa hay công nghệ cao. Ông ta nói rằng nếu Bakshi không có gan cho chuyện này, vậy thì anh ấy sẽ phải, ừm — tôi nghĩ ông ta nói chính xác là 'tìm công việc quản lý 7-11 đi'. Và ông ta nói một vài, ờm, một vài thứ khác nữa mà tôi sẽ không, uh, nhắc lại ở đây.
Nhưng cuối cùng, Bakshi đã không chùn bước. Và bọn tôi cũng vậy.

Một cuộc thỏa hiệp đã đạt được vào ngày 5 tháng Mười Một. Một SRA sẽ được gắn vào một chiếc USV (Phương tiện Trên nước Không người lái) có khả năng tự duy trì trọng lực và cung cấp năng lượng. Một người đại diện từ bên DLS đã đến với tư cách cố vấn SRA và hỗ trợ kỹ thuật.

Ngay sau khi tiến vào vùng ảnh hưởng của SCP-3241, chiếc USV ngừng phản hồi với các lệnh điều khiển từ xa. Con tàu hoạt động tự động trong hai ki-lô-mét trước khi gặp sự cố máy thảm khốc và chìm cùng với SRA được gắn trên tàu. Vì điều này là bước tiến đáng kể so với những gì các máy bay không người lái trước đó đạt được, đại diện DLS tuyên bố rằng SRA đã hoạt động; hơn nữa, anh ta tuyên bố rằng quyền kiểm soát đối với máy bay không người lái có vẻ bị mất do trường hình thái của SRA không đủ rộng để ngăn chặn sự gián đoạn bất thường của các đường truyền vô tuyến truyền đến. Anh kết luận rằng một mạng lưới các SRA chồng chéo — kết hợp với các điều chỉnh thủ công do người điều hành SRA được cấp phép thực hiện — sẽ là quá đủ để vượt qua bất kỳ tác động dị thường của SCP-3241.

Giám đốc Browning hoàn toàn đồng ý với đánh giá này. Ông tiếp tục ra lệnh cho thủy thủ đoàn tàu SCPF Stravinsky gắn các SRA lên tàu của họ và tiến hành thâm nhập vào vùng ảnh hưởng của SCP-3241 — với Giáo sư Bakshi (nhân viên điều hành SRA được cấp phép duy nhất tại thời điểm đó) để thực hiện các điều chỉnh theo yêu cầu. Một lần nữa, một vài thành viên của thủy thủ đoàn tàu SCPF Stravinsky từ chối.

Giám đốc Browning sau đó ra lệnh gắn ba trong số năm SRA còn lại lên tàu SCPF Beagle 3 (một tàu tuần tra bốn người nhỏ) và tập hợp một đội để đích thân hộ tống ông vào vùng ảnh hưởng của SCP-3241. Khi Giáo sư Bakshi từ chối đi cùng Giám đốc Browning, anh đã yêu cầu đại diện DLS thay thế cho vị trí của mình.

Vào năm 2018, Giáo sư Gambheer Bakshi đã cung cấp lời khai sau đây về việc Giám đốc Browning yêu cầu đại diện DLS vận hành SRA:

Raymond Asakawa. Kỹ thuật viên từ DLS — đó là tên cậu ấy. Cậu ấy còn trẻ. Rất trẻ. Rất sáng dạ nữa. Sau đó tôi mới biết rằng cậu ta đang học để trở thành một chuyên gia máy tính. Cậu ta làm công việc này để trả cho học phí của mình.
Tôi không nghĩ cậu ta… không. Tôi biết cậu ta không hề có ý định lừa dối ai cả. Cậu ta chỉ tin tưởng vào những gì mình được đào tạo. Cậu ta tin vào cuốn sổ tay SRA. Tất cả câu trả lời giải đáp của cậu ấy cho câu hỏi của Giám đốc Browning đều đến từ cuốn sổ tay hướng dẫn đó. Chắc hẳn cậu ấy đã thuộc lòng nó. Giám đốc Browning đã lợi dụng nó. Vỗ nhẹ vào lưng người thanh niên, hỏi cậu ta tất cả về nồng độ Hume, bộ đếm Kant — những câu hỏi mà hắn ta biết cậu Asakawa có thể trả lời được. Dựng nên sự tự tin của cậu ấy. Khiến cậu ấy cảm giác như mình là một chuyên gia, như là — như là một phần của đội vậy.
Sau đó, khi Giám đốc Browning đề nghị tôi đi cùng hắn — hắn đã biết trước tôi sẽ nói không. Hắn đã biết. Rồi hắn quay sang cậu Asakawa, và đó là lúc tôi nhận ra chuyện gì đang xảy ra. Tại sao hắn lại đối xử tốt với cậu thanh niên đó như vậy. Hắn đã chơi cậu ấy. Hắn quay sang Asakawa, và hắn ta nói — hắn ta hỏi nếu cậu ấy có thể — hắn
hắn hỏi cậu ấy — hỏi cậu ấy để
để
Chết tiệt.
Chết tiệt. Xin lỗi. Tôi xin lỗi. Tôi thường không — cho tôi một lúc. Chỉ là, ừm, cho tôi một lúc thôi. Đã khá lâu rồi kể từ khi tôi nói về — chết tiệt. Tôi xin lỗi.
Okay.
Được rồi. Okay. Tôi ổn rồi. Xin lỗi. Xin lỗi vì đã chửi thề.
Người đó trông rất sợ hãi lúc đó. Ý tôi là cậu Asakawa. Tôi nghĩ cậu ấy bắt đầu nhận ra rằng có một mối nguy hiểm thật sự ở đây. Nhưng sau đó, Browning nói điều gì đó — tôi thậm chí không nhớ là gì. Điều gì đó về thời của ông ta, họ không có các SRA? Làm cách nào họ có thể cứu nhiều mạng người đến vậy hồi đó. Tầm quan trọng công việc của Asakawa. Điều gì đó tương tự như vậy. Sau đó Asakawa mỉm cười, và —
cậu ấy đã nhìn tôi, lúc đó. Khi cậu ấy sợ hãi. Cậu ấy nhìn thẳng vào tôi. Tôi. Như kiểu cậu ấy đang cầu cứu tôi. Và — tôi có thể. Tôi có thể cứu cậu ấy. Tôi có thể nói không. Tôi có thể nói hoàn toàn không. Tôi có thể đưa cậu bé đó ra khỏi con thuyền và nói với thằng béo khốn nạn súc sinh đó tự đi một mình đi.
Nhưng tôi đã không làm vậy.
Tôi rất tức giận về hắn. Browning đặt cái tính tự phụ của hắn lên trên toàn bộ mạng sống của chúng ta. Tôi muốn hắn phải bị trừng phạt. Hắn đáng bị trừng phạt. Và đó là lý do tại sao Raymond Asakawa lại chết. Hắn ta muốn tôi cứu cậu ấy, và tôi đã không làm vậy. Bởi vì tôi đã tức giận.
Tôi không tiếc vì Browning đã chết. Đụ má nó. Hắn ta đáng bị tệ hơn. Nhưng tôi rất tiếc về Raymond Asakawa. Từng ngày trôi qua mà tôi không tiếc về Raymond Asakawa. Tôi đã để nó xảy ra. Tôi đã để cậu thanh niên đó chết. Đáng lẽ nó phải là tôi trên con tàu đó. Tôi xin lỗi.
Chết tiệt. Tôi xin lỗi. Chúa ơi, tôi rất xin lỗi.

Giám đốc Browning lên tàu SCPF Beagle 3 với đội của mình và tiếp cận SCP-3241. Trong số bốn thành viên của đội, chỉ có Jackson Voccola, một cựu chuyên viên quản thúc, đã sống sót:

Bọn tôi di chuyển được khoảng một ki-lô-mét thì tôi nhận ra có điều gì đó không ổn. Có một tiếng ồn chói tai nhỏ đằng sau lưng tôi — giống như có gì đó đã tắt với động cơ vậy. Tôi bắt đầu suy nghĩ mình sẽ làm gì nếu chúng thất bại. Không thể đánh liều bơi chỉ bởi nó được. Sau đó tôi nhớ có dây kéo — chúng có thể kéo bọn tôi trở lại. Điều đó giúp tôi bớt căng thẳng một chút.
Nhưng âm thanh đó cứ lớn dần lên. Có gì đó không ổn về nó. Quá inh tai. Không phải tiếng máy móc. Cuối cùng tôi quay người lại, và, ừm, ừ. Không phải do động cơ. Đó là do đứa trẻ. Đứa mà DLS cử cho bọn tôi ấy.
Cậu ta đã la hét được một lúc rồi. Không khó để hiểu tại sao. Điều khiến tôi thắc mắc là cậu ta có thể hét. Một khối thịt lớn của cậu ta đã biến thành thủy tinh. Mọi người có thể nhìn hẳn vào bên trong cậu ấy — như là ai đó đã lắp đặt một đống cửa sổ lên khắp cơ thể cậu ta vậy. Có một mạng tĩnh mạch kết lại xuyên suốt ruột của cậu ta — như kiểu dải lụa màu hồng vậy.
Khi cậu ta di chuyển, nó tạo ra tiếng khủng khiếp như này. Răng rắc và lốp bốp. Giống như ai đó đang xát gót chân vào một bao bóng đèn vậy. Chiếc kính bắt đầu rạn nứt — những đường răng cưa bắn xuyên qua và đâm sâu vào nội tạng cậu ta. Máu chảy dọc theo các vết nứt, sau đó chảy nhỏ giọt từ người cậu ấy. Rất chậm rãi.
Sanchez lộn ngược từ trong ra ngoài. Cậu ấy dường như còn không để tâm. Tôi nghĩ cậu ấy còn nháy mắt với tôi cơ. Và Browning, ờm — tôi không rõ lắm, nhưng trông có vẻ như xương của hắn ta đang bay hơi. Cơ thể hắn sụp xuống thành một đống da mềm, gấp nếp. Như là một chồng đồ giặt bẩn vậy. Đám khói màu vàng hôi hám này cứ bốc ra từ tất cả các lỗ của hắn ta.
Tôi nghĩ rằng động cơ đã chết ở một số điểm? Điều cuối cùng tôi còn nhớ là mọi người đã kéo bọn tôi về nhanh nhất có thể. Đó là lúc tôi bất tỉnh vì cơn đau. Khi tôi tỉnh lại vài tuần sau đó, họ nói với tôi rằng Sanchez và Browning đã chết khi về đến nơi. Đứa trẻ mất khoảng hai mươi phút để rồi cuối cùng vỡ tan và chết vì mất máu. Còn tôi thì… đã gặp may. Chỉ mất có ba chi và một nửa đường ruột.
Nghe này. Browning là một thằng khốn, mọi người nghe chứ. Hắn và tôi cùng gia nhập Tổ Chức trong những ngày quang vinh. Hồi đó chúng tôi làm mọi thứ khác biệt — và khi thời thế bắt đầu thay đổi, hắn ta không thể thay đổi với chúng. Ừ, hắn ta là bạn tôi. Hắn ta cũng là một thằng tồi tệ. Tôi biết điều đó. Tôi đã luôn biết điều đó.
Nhưng so với tất cả lỗi của hắn ta, hắn không phải là lý do mà bây giờ tôi phải uống bữa ăn của mình qua đường ống và thải chúng vào túi. Tôi cũng không trách thằng bé — nó sẽ không đi cùng với bọn tôi nếu nó không chịu đựng cái máy SRA vớ vẩn này giống như bọn tôi vậy. Và chắc chắn là tôi cũng chẳng đổ lỗi cho Gambheer Bakshi. Đúng như tôi nghĩ, người này là một vị thánh.
Nhưng Daniel DeVorn? Tôi thề với Chúa. Nếu tôi mà bắt gặp được thằng đó, tôi sẽ bò ra khỏi chiếc xe lăn này xé toạc họng của hắn với hàm răng trần này.
Nó chẳng làm được một điều chết tiệt gì. Mọi người nghe rõ chứ? Chẳng một điều chết tiệt gì. Nếu có, thì nó khiến mọi thứ trở nên tệ hơn thôi: Không có máy bay không người lái nào lộn từ trong ra ngoài. Không chiếc nào trong số chúng bốc hơi thành khói. Không chiếc nào trong số chúng biến thành thủy tinh khốn kiếp. Không, tất cả chúng chỉ bị hỏng thôi. Mãi cho đến khi bọn tôi thử sử dụng các sản phẩm như cứt của hắn để quản thúc con tàu cứt của hắn mà tôi mới nhận kết cục phải ngồi trên cái ghế cứt này.
Dù mày đang ở đâu, Ngài DeVorn, mày sẽ phải quỳ xuống và lạy cảm ơn Đấng Toàn Năng vì Tổ Chức đã thay đổi. Bởi vì ở thời của tao ư? Chuyện này sẽ không kết thúc bằng một vài kiểu — một kiểu "điều tra" chết tiệt.
Nó sẽ kết thúc với mày trong bộ đồ bay màu cam, ném mày vào cái hố sâu nhất, tăm tối nhất mà bọn tao có thể tìm thấy. Nó sẽ kết thúc với bọn tao cười hả hê trong khi nhâm nhi vài chai bia lạnh và cược xem còn bao lâu nữa trước khi tất cả bọn quái của bọn tao mệt mỏi vì tiếng la hét của mày.

Phụ Lục 3241.5: Email được thu lại

Vào ngày 3 tháng Một, năm 2018, một nguồn vô danh đã cung cấp cho Tổ Chức một vài terabyte dữ liệu được lấy từ mạng cục bộ của DLS. Dữ liệu này bao gồm nhiều cuộc trao đổi giữa Daniel DeVorn và nhân viên của mình liên quan đến việc lắp đặt hệ thống SRA khẩn cấp trên tàu SS Sommerfeld:

NGÀY: 16/04/1995
CHỦ ĐỀ: Re: Hệ thống SRA khẩn cấp
TỪ: <simon.tchlekoz@███████>
ĐẾN: <daniel.devorn@███████>


Ông có thể thuyết phục rằng mối tương quan không tương đương với luật nhân quả cho tới khi ông xanh mặt ra, Dan. Nhưng mối tương quan là 1:1 ngang qua boong tàu — trong hơn mười tàu. Và ngay cả khi nó không tương quan với nhau, nó cũng chẳng thay đổi được sự thật rằng mỗi máy neo ngoài kia — bao gồm cả những chiếc đã hoạt động trong nhiều thập kỷ — đang trải qua các sự kiện thất bại với mức độ đều đều ngày càng tăng.
Mỗi chiếc SRA chúng ta đưa vào sử dụng đều làm gia tăng nguy cơ thất bại của SRA khác. Ngay bây giờ, chúng tôi đang tính toán các sự gia tăng tỷ lệ thất bại này thông qua hệ thống sửa lỗi tự động: Khi một đơn vị thất bại, hai thiết bị có thể điều chỉnh các trường hình thái và ngăn ngừa đơn vị bị lỗi trước khi nó trở nên quá tải. Chúng tôi lên lịch trình "bảo trì phòng ngừa" hàng tháng để kiểm tra các đơn vị bị lỗi và lặng lẽ đổi chúng với chiếc sẽ không biến da của bạn thành axít hay gì đó.
Nhưng chỉ có vậy thôi: Ông cần ít nhất hai đơn vị "sạch" để ngăn một đơn vị thất bại khỏi bị quá tải. Đó là lý do tại sao một hệ thống khẩn cấp chỉ với bốn SRA sẽ không cắt giảm nó đi nữa đâu. Thiết lập đó đã hoạt động cách đây hai mươi năm, chắc chắn rồi — cái hồi khi mà một đơn vị đơn thất bại hiếm khi xảy ra. Bây giờ thì sao? Hàng đống đơn vị trong một bộ thất bại toàn thời gian. Và nếu hai trong bốn chiếc thất bại? Hai chiếc còn lại sẽ chẳng thể giữ được chúng đâu. Chúng sẽ trở nên quá tải.
Ông đã bao giờ thấy một Neo Hằng Thực Scranton trở nên quá tải chưa? Tôi thấy rồi. Những từ như "Kinh thánh" đến tâm trí tới tôi.
Nếu ông muốn con tàu này an toàn, ông sẽ cần mười tám — ít nhất mười lăm — đơn vị. Điều đó sẽ giữ chúng khỏi vùng nguy hiểm. Điều đó làm cho cơ hội xảy ra sự kiện quá tải trở nên là không thể. Chỉ cần đặt bớt một đơn vị thì ông sẽ đặt mọi người trên con tàu vào nguy hiểm.

Sau khi xem xét các email này, các điều tra viên của Tổ Chức kết luận sự cố mất tích tàu SS Sommerfeld có lẽ xảy ra do kết quả của việc thất bại nghiêm trọng với sáu SRA trên tàu của nó. Hơn nữa, các điều tra viên tiếp tục liên kết với hơn hai mươi vụ vi phạm quản thúc khác nhau với các thất bại SRA nghiêm trọng tương tự. Điều này dẫn đến cuộc điều tra năm 2018 về việc mất tích của tàu SS Sommerfeld và sự tín nhiệm hiện tại của Tổ Chức đối với các SRA về việc quản thúc những kẻ bẻ cong hiện thực.

Hai tuần trước khi cuộc điều tra được bắt đầu, Daniel DeVorn đã trốn thoát khỏi sự giám sát của Tổ Chức. Các nỗ lực định vị vị trí của ông ta vẫn đang được tiến hành.


Unless otherwise stated, the content of this page is licensed under Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License