SCP-3966


đánh giá: +8+x
3000AB.png

Cấu trúc tinh thể của SCP-3966-B. Thành phần bên tay trái tương ứng với SCP-3966-A.

Mã vật thể: SCP-3966

Phân loại: Keter

Quy trình Quản thúc Đặc biệt: Một lọ thủy tinh chứa SCP-3966-A sẽ được bảo quản trong kho lưu trữ phòng thí nghiệm đông lạnh tại Điểm-66. Nó phải được kiểm tra hàng tháng về độ nhiễm bẩn. Bất kỳ hợp chất mới nào được phát hiện làm nhiễm bẩn mẫu vật lọ phải được phân tích phổ ký để xác định thành phần hóa học của nó và bất kỳ liên kết hóa học nào trống cần phải được lưu ý.

Ngoài ra, văn liệu y học dự định xuất bản phải được khảo sát nhằm phát hiện sự miêu tả về SCP-3966 và bất kỳ loại hình văn bản nào như vậy sẽ bị từ chối xuất bản. Trong trường hợp có sự bùng phát của Hội Chứng Đột Tử Về Đêm Không Rõ Nguyên Nhân (SUNDS), Đội Đặc Nhiệm Cơ Động Rho-7 ("Bác Sĩ Không Cối") sẽ được triển khai nhằm xác nhận mức độ SCP-3966 trong cả nạn nhân lẫn dân thường còn sống trong khu vực bùng phát. Việc thu hoạch SCP-3966 từ thi hài dưới vỏ bọc khám nghiệm tử thi đã được chấp thuận.

Theo Quy trình Morpheus-4, tất cả các đoạn hội thoại liên quan tới SCP-3966 sẽ được lưu lại để kiểm duyệt bởi Cơ quan Nhận thức độc, nhưng SCP-3966 không cần phải tuân theo quy trình xử lý nhận thức độc tại thời điểm này. Nghiên cứu viên được chỉ định với SCP-3966 có thể yêu cầu tái chỉ định lại nếu họ bắt đầu bị rối loạn vận động tay chân theo chu kỳ (PLMD).

Mô tả: SCP-3966 là một polipeptit kích thích thần kinh được tìm thấy ở con người. Nó được phát hiện có trong dịch não tủy (CSF) ở hơn ██% của các cuộc khám nghiệm tử thi khi tử vong xảy ra trong giấc ngủ. Qua hình thức thu hồi từ tử thi, nó được định danh là SCP-3966-A và sở hữu đặc tính dị thường là không có Đầu-C.1 Axit amin tận cùng trong SCP-3966-A có một điểm liên kết trống trên chuỗi cacbon mà không biểu hiện bất kỳ tính phản ứng hóa học nào.

Nhật Ký Thử Nghiệm:

Thí nghiệm 3966-1

Đối tượng: D-51174

Quy trình: Đối tượng được tiêm một liều lượng 2 ml dung dịch đẳng trương vô khuẩn 10% SCP-3966-A qua chọc dò tủy sống dưới sự gây tê cục bộ. Cơ quan duy trì sự sống và EEG của đối tượng được giám sát để kiểm tra phản ứng sinh học. 2 ml dung dịch được rút lại sau 30 giây để tái cân bằng mức độ.

Kết quả: Đối tượng trải qua một hành vi phản xạ rút lui 11.5 giây vào quá trình. Đối tượng bị kiềm chế lại bằng tay nhưng không trải qua phản ứng nào khác và 2 ml mẫu vật được thu hồi thành công. Đối tượng chịu tổn thương mô gia tăng tại điểm chọc dò tủy sống, nhưng đã hoàn toàn hồi phục.

Đối tượng báo cáo có "cảm giác rơi xuống" sau khi tiêm. EEG ghi lại sự khởi phát của ngủ NREM Giai Đoạn 1 xấp xỉ 1.5 giây trước phản ứng phản xạ. "Cảm giác rơi xuống," phản xạ rút lui và sự khởi phát NREM đều thống nhất với một cơn giật đầu giấc ngủ.

Phân tích hóa sinh mẫu vật không chỉ thị dấu hiệu của SCP-3966-A. Thu được một dạng protein mới (định danh SCP-3966-B) và nối tiếp chuỗi. Dạng protein không dị thường về mặt hóa học và kết thúc với một Đầu-C như dự kiến. Thử nghiệm hơn nữa được yêu cầu để xác định cách mà SCP-3966-B hình thành.

Thí nghiệm 3966-2

Quy trình: 0.5 ml dung dịch 10% SCP-3966-A vô khuẩn được bơm vào một đĩa petri chứa 0.5 ml dung dịch vô khuẩn 5% gamma globulin và 5% albumin. Mẫu vật được giám sát nhằm phát hiện phản ứng.

Kết quả: Báo báo không có phản ứng. Mức độ SCP-3966-A không đổi.

Thí nghiệm 3966-3

Quy trình: Sắp xếp trình tự chuỗi axit amin của SCP-3966-A và SCP-3966-B qua phân hủy Edman và phương pháp khối phổ

Kết quả: Sắp xếp trình tự SCP-3966-B thành công. Tổng chiều dài chuỗi: 289 axit amin.

Trình tự SCP-3966-A hoàn thành. Tổng chiều dài chuỗi: 143 axit amin. 142 axit amin ở đầu trùng với chuỗi Đầu-N của SCP-3966-B. Không thể thu được axit amin tận cùng. Khối lượng mẫu vật được chỉ định là đã giảm xấp xỉ 0.70%.

Thí nghiệm 3966-3B

Quy trình: Sắp xếp trình tự chuỗi axit amin của SCP-3966-A và SCP-3966-B qua phân hủy Edman và phương pháp khối phổ

Kết quả: Trình tự SCP-3966-A hoàn thành. Tổng chiều dài chuỗi: 143 axit amin. 142 axit amin ở đầu trùng với chuỗi Đầu-N của SCP-3966-B. Không thể thu được axit amin tận cùng. Khối lượng mẫu vật được chỉ định là đã giảm xấp xỉ 0.70%. Kết quả trùng khớp với Thí nghiệm 3966-3.

Nghiên cứu 3966-Alpha

Quy trình: Thiết lập trình tự axit amin đã biết với bộ gen con người.

Kết quả: Không kết quả trùng khớp với bộ gen con người. Nghiên cứu hơn nữa về bộ gen của các loài khác đang được tiến hành.

Ghi chú của Nghiên Cứu Viên Trưởng: Chúng tôi không biết nó từ đâu tới, nhưng vì nó không đến từ con người, nó chắc chắn phải đến từ môi trường. Chất CSF vô khuẩn, nên phải bằng cách nào đó nó bị chuyển qua hàng rào máu-não. Đề cử có khả năng cao nhất cho một điểm xâm nhập đó chính là đám rối mạch mạc, do nó sản xuất CSF từ huyết tương máu, nhưng do nó nằm sâu trong não bộ nên khá khó để kiểm tra. Sẽ gửi yêu cầu cấp mô thần kinh để xem nó sẽ hoạt động ra sao. - R. Argent

Thí nghiệm 3966-4

Đối tượng: Nghiên Cứu Viên Sơ Cấp Pawlukojc

Quy trình: Đối tượng trải qua một cuộc chọc dò tủy sống để thu hồi 1 ml dịch tủy não nhằm xét nghiệm SCP-3966.

Kêta quả: Phân tích hóa sinh mẫu vật không chỉ thị dấu hiệu của SCP-3966-A. Phát hiện mức độ SCP-3966-B cao nhất cho tới nay với 4.2 mg/dL, nhiều hơn 350% những gì đã được phát hiện trong các mẫu vật trước đó.

Thí nghiệm 3966-5

Quy trình: Cấy ghép SCP-3966-B vào mô thần kinh người còn hoạt động thu được từ Cấp-D SCP-596. Thử nghiệm trên mô để tìm điểm liên kết.

Kết quả: SCP-3966-B liên kết yếu với các kênh ion canxi Loại-N trong các nơron. Sự liên kết gây ra chẹn thụ động tại kênh, nhưng liên kết sẽ bị phá vỡ qua sự hiện diện của biến đổi trong điện thế màng (chẳng hạn như trong quá trình phóng điện của nơron thường xuyên). Hoạt động sinh học bị giới hạn. Chức năng hồi phục sẽ bị hạn chế ở một cơn tê liệt nhẹ và liệt cảm giác đau mà sẽ không tồn tại trong hoạt động bình thường.

Ghi chú, SCP-3966-B sẽ không gây ra co giật đầu giấc ngủ; về bản chất nó không phải là một mối nguy. Tôi sẽ gọi nó là một protein bất hoạt. - R. Argent

Thí nghiệm 3966-6

Quy trình: Cấy ghép SCP-3966-A vào mô thần kinh người còn hoạt động thu được từ Cấp-D SCP-596. Thử nghiệm trên mô để tìm điểm liên kết.

Kết quả: SCP-3966-A liên kết mạnh như một ngoại độc tố với kênh ion canxi Loại-N trong các nơron. Đầu tận cùng trước xynap được quan sát có trải qua một sự sai lệch cấu tạo tầng, tái cấu trúc kênh canxi thành một lỗ hổng tế bào. Chất dẫn truyền thần kinh, ion và bào tương nhanh chóng thoát ra khỏi nơron qua lỗ hổng, gây chết tế bào trong vài giây.

Khối lượng mẫu vật được ghi lại là 93.2% của mẫu vật trước thử nghiệm. Không phát hiện rò rỉ. Ghi chú, không phát hiện chất dẫn truyền thần kinh ngoại bào và dung dịch chứa mô không còn nồng độ ion canxi cao.

Lại thay đổi lớn về khối lượng, nhưng không có rò rỉ? Cái gì, vậy chất truyền thần kinh và ion cứ thế biến mất ư? Sự tái cấu trúc này đã làm gì? - R. Argent

Thí nghiệm 3966-7

Quy trình: Lập mô hình toán học của nếp gấp và liên kết protein của SCP-3966-A và SCP-3966-B với các kênh canxi Loại-N.

Kết quả: Cấu trúc protein của SCP-3966-A đối với Đầu-N có liên quan tới sự tái cấu tạo enzym của kênh canxi vào một lỗ hổng, trong khi điểm cuối không phải Đầu-C tự đi vào lỗ hỗng. Có hoạt động tương tự với SCP-3966-B, ngoại trừ thùy Đầu-C cố gắng xâm nhập vào lỗ hổng nhưng không thành công và làm bất ổn định liên kết Đầu-N, khiến kênh trở về hình dạng ban đầu.

Nỗ lực mô hình hóa cấu trúc protein ở vùng cuối của SCP-3966-A dẫn đến một hình thể không xác định.

Nói theo cách dễ hiểu: Chương trình mô hình hóa bị sập. Kết quả đầu ra không thể xác định được và các con số lộn tung hết lên. - R. Argent

Thí nghiệm 3966-8

Đối tượng: Nghiên Cứu Viên Sơ Cấp Pawlukojc

Quy trình: Thu hoạch SCP-3966-A từ CSF của đối tượng và khám nghiệm tử thi.

Kết quả: Đối tượng được phát hiện đã tử vong trên giường của cô vào 0015 khi máy theo dõi dấu hiệu sống mà cô ấy đeo đã kích hoạt một báo động. Phân tích huyết thanh CSF biểu thị 5.1 mg/dL SCP-3966-A và 1.6 mg/dL SCP-3966-B. Nguyên nhân tử vong được cho là SUNDS. Phân tích mô học tại mô thần kinh chỉ thị lượng lớn lỗ hổng tế bào trung gian SCP-3966-A và sự giảm thiểu thể tích của nơron bị ảnh hưởng.

Phân tích độc chất cho thấy sự tự sử dụng thuốc cyclobenzaprine và zolpidem. Cần phải được nhấn mạnh rằng đây là những loại thuốc trị co thắt và giảm đau mạnh, mà có thể gây ra các tác dụng phụ làm tê liệt. Hệ tim phổi dường như không bị ảnh hưởng, nhưng cơ vân cho thấy dấu hiệu giảm hoạt động rõ rệt.

Ghi chú của Nghiên Cứu Viên Trưởng: Tôi đã ăn may. Tôi làm rơi một trong các ống nghiệm CSF, nhưng nó lại không vỡ và hóa ra chỉ có SCP-3966-B. Tôi thực sự cần một giấc ngủ. - R. Argent

Nghiên cứu 3966-Beta

Quy trình: Tiếp tục tự động tìm kiếm trình tự gen của SCP-3966

Kết quả: Không phát hiện kết quả hoàn toàn trùng khớp. Kết quả gần nhất (87%) với protein tơ nhện của SCP-848.

Ghi chú của Nghiên Cứu Viên Trưởng: SCP-848 bắt mồi từ nơi-chỉ-Chúa-biết bằng mạng nhện của nó. Tôi không dám uống thuốc ngủ. Nếu tôi phải ngủ với lũ nhện thì tôi sẽ làm. - R. Argent

Thí nghiệm 3966-9

Đối tượng: Nghiên Cứu Viên Trưởng Ts. Roderick Argent, D-51174 (Chỉ Huy)

Quy trình: Nghiên cứu giấc ngủ được thực hiện trong buồng quản thúc SCP-848

Kết quả: Đối tượng ngủ trong chín tiếng mà không có vấn đề. Đối tượng đã có chu trình thức giấc vào năm tiếng kể từ khi vào buồng quản thúc và hủy bỏ nghiên cứu đối chứng, đưa D-51174 vào buồng quản thúc.

Ghi chú của Nghiên Cứu Viên Trưởng: Không thể cứ để họ vặn mình và cọ quậy được. Tôi ngủ như một em bé. Cậu Cấp-D lại không muốn tham gia cùng tôi với tất cả bọn nhện, nhưng anh ta không còn lựa nào khác. Anh ấy lom khom, bám vào người tôi. Mất khá lâu để khiến anh ấy bình tĩnh lại. Thực sự không thích nhện. Tôi thức dậy với một con đang bò qua mặt tôi. Tôi cứ mơ thấy Ellie bị bao bọc trong một cái kén. Hôm nay mạng nhện có vẻ dày hơn. Phải nói với chị thôi. Tôi khỏi bệnh rồi, hy vọng như vậy. - R. Argent

Thí nghiệm 3966-10

Quy trình: Một ma trận các vi pipet thủy tinh được chuẩn bị, mỗi miếng được kẹp vào một kênh canxi Loại-N. Một sợi quang học duy nhất được xâu vào đầu của mỗi pipet. Thiết bị sau đó được đặt trong dung dịch đẳng trương chứa 25% SCP-3966-A. Khi tái cấu hình kênh canxi vào các lỗ hổng, những sợi quang sẽ được chèn vào các lỗ hỗng và kết quả trực quan được ghi lại.

Kết quả: Sự tái cấu hình của kênh vào các lỗ hổng thành công. Những sợi quang học được chèn vào khoảng cách 10 μm vào lỗ hổng đi qua đầu cuối của mỗi pipet. Quan sát hiển vi bên ngoài cho thấy sợi quang không kéo dài qua đầu cuối pipet. Trong cấu hình này, một hình ảnh được tạo ra thành công.

Nếu không có ngoại lệ được nêu, nội dung của trang này được xuất bản dưới giấy phép Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License