SCP-4231
rating: +2+x

BÀI VIẾT DƯỚI ĐÂY BAO GỒM NHIỀU MIÊU TẢ CHI TIẾT VỀ BẠO LỰC TÌNH DỤC.1

Thịt

Vào ngày 8/29/1989, Sĩ quan Richard ABLE (IO) đã được triệu tập để thẩm vấn Sĩ quan Allen HALL, người chỉ huy đội phản ứng ban đầu của Tổ Chức tiến vào thị trấn North Access, Cornwall sau khi tiếp nhận một cuộc gọi trực tiếp tới trung tâm phản ứng và điều động lực lượng của tiền đồn Điểm-34 đóng tại ngoại ô London, cách thành phố này khoảng 1.3 giờ đi xe về phía Nam. Cuộc Thẩm vấn được tiến hành tại phòng Điều tra và Thẩm vấn Điểm-34 vào 9/02/1989.

IO đã thực hiện loạt thẩm vấn sơ bộ với HALL về bản chất chung của tín hiệu radio mà tiền đồn tiếp nhận. HALL cho biết tiền đồn đã từng phát hiện được tín hiệu này trong quá trình quét radar chủ lực vào khoảng 2000 giờ ba ngày trước lần ra quân đầu tiên. HALL đã làm rõ rằng trong thời điểm đó không có đội phản ứng nào đang hoạt động ngoài phạm vi tiền đồn, trong khi tín hiệu quét radio của tiền đồn chỉ dành cho các đội phản ứng và không thể được sử dụng bởi các cơ quan bên ngoài Tổ Chức, dẫn tới phán đoán của anh rằng tín hiệu "có nguồn gốc dị thường". Trong cuộc gọi có xuất hiện âm thanh của nước chảy xiết. HALL không nhớ còn âm thanh nền nào khác có thể đã xuất hiện trong bản ghi âm tín hiệu radio này hay không. Nghi ngờ đây là lỗi từ máy tính, HALL đã nhanh chóng kết thúc cuộc gọi và quay trở lại công việc ban đầu.

Vào khoảng 0800 giờ ngày hôm sau, đường dây chủ lực của tiền đồn Điểm-34 lại tiếp nhận một tín hiệu thứ hai; tín hiệu này được xử lý bởi điều phối viên David SHMITT, người đã báo cáo lại với HALL về âm thanh nước chảy xiết khác thường giống như đã phát hiện trong lần trước. Dù vậy, trong các cuộc thẩm vấn tiếp theo, SHMITT cho biết lúc đó anh đã không lưu ý đến bất kì giọng nói cụ thể hay âm thanh nền nào. HALL chỉ dẫn SHMITT xác định tọa độ của tín hiệu, và khu vực này được cho là ở quanh vùng North Access, Cornwall. Khi toạ độ cần tìm đã được xác định, tín hiệu bị ngắt đột ngột. HALL khẳng định anh không nhận ra nội dung của tín hiệu có thay đổi nào vào thời điểm tín hiệu kết thúc. IO tiếp tục đào sâu thêm tại sao HALL không cân nhắc bắt đầu cuộc điều tra đang xét ngay sau khi nhận tín hiệu thứ hai. HALL cho biết với quy trình thông thường, một tín hiệu từ bên ngoài Tổ Chức là không đủ để khơi mào một cuộc điều tra; cuộc điều tra chỉ bắt đầu khi họ phát hiện thấy trong âm thanh được truyền tới xuất hiện bức xạ nền bất thường là biểu hiện của trường Hume bất ổn định.

HALL cho biết sau hai lần nhận được tín hiệu, anh đã xung phong dẫn đầu một đội đặc vụ tiến hành điều tra địa điểm tín hiệu xuất hiện, trước mối quan ngại về khả năng có dị tượng đang gây ảnh hưởng đến khu vực này. HALL đã thành lập một đội bao gồm SHMITT (điều phối viên), Amy WEATSTONE (điều tra viên quản thúc), Ron SHULTZ (ĐĐNCĐ) và Rodrick GRIMSKY (chuyên viên phân tích kỹ thuật). Đội năm người này đã rời cơ sở trên một xe phản ứng tiêu chuẩn của Tổ Chức vào 2000 giờ. HALL đã báo cáo rằng kích thước quá nhỏ của North Access khiến thị trấn này không được liệt kê trên các bản đồ tiêu chuẩn và buộc phải được xác định bằng ước đoán của Tổ Chức trước giờ khởi hành.

Allen đã từng làm việc ở một lò mổ thời còn ngồi trên giảng đường đại học. Anh chẳng thấy có vấn đề gì lắm với chuyện đó, thực sự là vậy; phần lớn những việc anh làm chỉ là mổ xẻ, và suy cho cùng, đó chẳng phải cách tệ hại để bỏ túi được được nhiều hơn lương tối thiểu theo giờ một tí. Duy chỉ có mùi hôi ở đó là điều khiến anh ghê tởm.

Những con vật bị giết và lột da ở phòng bên cạnh, còn việc của anh là xẻ thịt chúng trong tủ mát ngay khi chúng còn tươi và treo những cái xác lên móc để chúng hong khô. Ban đầu anh chỉ ngửi thấy mùi máu tươi, và đa phần lượng thịt được chế biến ở đây khá sạch sẽ, nên tựu trung lại, anh cho rằng mình vẫn sẽ làm việc được giữa cái mùi máu nồng nặc này. Nhưng thứ làm anh ớn lạnh rốt cuộc lại là cái mùi tỏa ra từ những phần thải bỏ mà anh phải kéo lên bằng bàn tay đeo găng và ném vào những cái xô la liệt quanh mình - tâm can tỳ phế thận, dạ dày ở chỗ nọ, quả tim ở chỗ kia, bản chất sinh học của công việc này không hẳn là thứ mà anh được dạy trong thời gian thử việc. Những thứ anh lôi ra đều tương đối khó tả, dù chẳng cần phải có một định nghĩa nào cho chúng - một hỗn hống máu me lòe nhòe tởm lợm. Cắt xẻ băm vằm con mẹ nó ra. Bổ dạ dày ra rồi quẳng nó lẫn vào đống ruột rà. Chẳng khác nào đẽo gọt một quả bí ngô.

Những thứ lòng mề phèo phổi không tên rồi đều phải về với cái thùng rác không tên. Một hay hai lần giữa mỗi ca làm, anh vẫn thường khiếp hãi khi cái thùng ấy đầy lên, nghĩa là đã đến lúc anh phải đẩy nó tới chỗ cái máy nghiền trên những bánh xe kẽo cà kẽo kẹt. Cứ nhồi tất cả xuống, nhìn cái máy gào rú và khạc nhổ trước thịt nát xương tan, rồi thứ xuất hiện sau đó sẽ là một hỗn hợp có màu hồng của một ngón tay sưng phù vì viêm nhiễm, một bể phốt hồng hào lác đác những lông và xương trong đống thịt. Có giời mới biết người ta dùng cả đống đó để làm gì, nhưng chúng - tất cả chúng - chắc chắn là hôi rình. Phân trong ruột, nước tiểu ở bàng quang, máu từ cái đống đéo gì đấy còn lại. Lại một kiểu hỗn hống máu me lòe nhòe tởm lợm.

Nên trong cái buổi tối tháng Tám ấm áp ấy khi Allen đưa đội ngũ của mình đến North Access, anh không dám tin rằng mình đã ngửi thấy cái mùi này ngay từ những phút giây đầu tiên bởi anh đã nghĩ, thực sự nghĩ, rằng mình sẽ không bao giờ phải chịu đựng nó thêm lần nữa.

Nhưng nó có ở đó.

Và khi họ lại gần, nó càng mạnh mẽ hơn.

HALL đã khẳng định rằng khi họ còn cách vùng ngoại ô thị trấn khoảng nửa dặm, WEATSTONE đã hỏi anh về thứ mùi ngày càng nồng nặc đang lan ra trong bầu không khí xung quanh, và HALL đã đáp lời, dẫn nguyên văn "Ôi, Chúa ơi, mùi xác".

"Chúng ta-kiểu như- trời ơi, tôi không biết nữa, gọi viện trợ hay gì đó được không?" David hỏi từ hàng ghế phía sau. Chiếc xe xóc nảy khi đi qua một ổ gà, và Allen có thể nghe thấy ở ghế sau, Amy hít một hơi đầy sợ hãi.

"Chưa được," Allen nói. "Tôi có thể sai chứ. Ron, anh từng thấy nhiều thứ kiểu này mà, anh nghĩ sao?"

"Cái gì đó thối rữa, ừ," người đặc vụ ngồi ngay sau lưng anh trả lời. Lời anh nói nghe đau đớn, nhưng chắc chắn. "Chắc chắn là thế."

Allen lặng lẽ gật đầu, lo lắng cồn cào lên trong ruột. Năm người bọn họ tất thảy đều lặng câm. Đột nhiên anh chỉ ước gì mình đã dời lại việc này đến sáng - đèn pha chiếc xe rọi sáng trưng con đường ngay trước họ, cùng lơ thơ những cây cối, ruộng đồng hai bên đường. Con đường vắng tanh.

"Xác chết nhiều đến mức nào mà mùi kinh thế nhỉ?" Rodrick thì thầm từ góc xa phía sau xe; Allen nghe thấy và suýt đã ước gì mình chưa từng nghe thấy, vì đó chính là điều đang khiến anh phải nôn nao bồn chồn trong bụng. Anh đã phải mổ bao nhiêu con bò trước khi lại phải nhìn cái cảnh tượng ở chỗ máy xay thịt chứ? Hai? Ba? Mà so với bây giờ, lúc đó vẫn còn thơm tho chán. Cần tới tận bao nhiêu cái xác để thứ mùi kinh khủng này xuất hiện trước cả khi họ vào thị trấn chứ?

"Tôi chịu," Anh trả lời. Vì quả thực là vậy. Và anh sợ hãi-

"Ôi trời ơi," Amy thở dốc, "Ôi trời ơi, Allen!"

Anh đạp lên phanh vừa kịp lúc để chiếc xe phanh kít lại trước một khối gì đó lớn và thấp tè chặn giữa đường. Với tầm nhìn được rọi sáng bởi đèn pha, Allen hốt hoảng khi thấy lông thú xuất hiện trước mắt mình - anh nhớ, nhớ thoáng qua, đống da bò cùng cái màu nhờ nhờ của lông và máu.

Đó là một cái xác ngựa, và nó đang thối rữa dần.


Trích đoạn từ tài liệu giảng dạy "Thực thể Biến đổi Thực tại: Kinh tế xã hội, Bệnh Tâm lý, và Các Triệu chứng Lâm sàng" xuất bản năm 2014

Sự cố Cornwall: Chuyện gì Đã xảy ra?

Vào sáng sớm ngày 1 tháng Tám, 1989, một đội điều tra viên quản thúc nhỏ từ London tiến vào thị trấn North Access, Cornwall - một thị trấn với khoảng 1000 cư dân có lịch sử gắn liền với nhiều sự kiện huyền bí - sau khi nhận được nhiều cuộc gọi khả nghi từ địa điểm này. Khi vào đến vùng ngoại ô thị trấn, đội nhanh chóng đối mặt với mùi thối rữa đậm đặc khiến họ e ngại mình không đủ khả năng xử lý vấn đề có thể sẽ gặp phải, và trước khi vào được bên trong thị trấn, họ bị chắn đường bởi một xác chết ngựa đã khô và phân hủy mạnh. Chính vào thời điểm này, họ đã gọi cứu trợ.

Vào 2 giờ sáng, ba xe quản thúc khác đã tới được rìa thị trấn. Họ đã hợp tác với nhau để di chuyển thi thể con vật ra khỏi đường đi.

Vào 3 giờ sáng, cả bốn đội quản thúc đã tiến thêm được khoảng một phần tư dặm theo con đường trước khi bắt gặp thi thể đã khô của một người đàn ông khoảng hơn 40 tuổi. Họ buộc phải di chuyển thi thể trước khi đi tiếp. Để tiếp tục nhiệm vụ, Chỉ huy Hall và toàn đội đã kéo thi thể đang thối rữa sang bên lề đường để đoàn xe có thể đi qua.

Vào 4 giờ sáng, Điểm-34 tại London nhận được thông báo từ đội quản thúc rằng họ đã phát hiện thêm nhiều thi thể khác.

Vào 5 giờ sáng, Điểm-56 ở Ireland được liên hệ để điều động thêm xe quản thúc. Tuy nhiên yêu cầu mà họ nhận được thực chất lại là chi viện quân sự. Toàn bộ North Access hiện đang là hiện trường án mạng và đã bị phong tỏa. Nơi đây sẽ tiếp tục được đặt dưới tình trạng này trong sáu tháng sắp tới. Đây sẽ là cuộc thảm sát Lục Thể có quy mô lớn nhất trong lịch sử, với khoảng 1,200 người thiệt mạng - 1,000 thường dân và 200 phản ứng viên GOC thuộc chiến dịch Ichabod, lừng danh với việc sát hại hàng loạt thực thể biến đổi thực tại trong thập niên 80 sử dụng phương pháp ước đoán bốn cấp độ dựa trên thang đo Kant hiện đã lỗi thời. Không có động vật nào trong vùng sống sót ngoại trừ tám người - sáu người phụ nữ đang mang thai, một người đàn ông và một trẻ sơ sinh - được tìm thấy trong tình trạng nguy cấp. Có dấu hiệu của lũ quét, nhưng hồ nước trong vùng lại hoàn toàn khô hạn. Sự kiện này không thể diễn ra ngoài phạm vi ba ngày tính từ thời điểm đó trở về trước. Vậy chuyện gì đã xảy ra?

Sự thật - rồi sẽ dần dần được hé lộ - ẩn giấu trong một mối quan hệ yêu đương sâu nặng giữa hai thực thể biến đổi thực tại, được gọi tên "A" và "B" bởi những điều tra viên…


Con ếch trên Bếp lửa

99% các Lục Thể sẽ trải qua tiến trình biến đổi tâm lý dưới đây song song với sự phát triển năng lực của chúng.

GIAI ĐOẠN 1: Phủ nhận: Đối tượng từ chối chấp nhận sự thật rằng mình có khả năng biến đổi thực tại. Các Lục Thể ở giai đoạn này thường cố gắng hợp lý hóa, bình thường hóa năng lực của mình theo nhiều cách khác nhau. Trong một số trường hợp, các Lục Thể sẽ dừng lại ở giai đoạn này: năng lực của chúng được tự áp chế, và sẽ không tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, phần lớn trong số chúng sẽ tiếp tục chuyển sang:

GIAI ĐOẠN 2: Thử nghiệm: Đối tượng tự công nhận năng lực mà mình có và bắt đầu tìm tòi giới hạn khả năng của mình. Nhìn chung, các Lục Thể thường thử nghiệm theo một trong hai mô hình: chậm rãi, khoa học và cẩn thận nhằm phát triển năng lực dần dần theo thời gian, hoặc trải qua một số lần nhảy cóc đột ngột. Trong tất cả các trường hợp, đối tượng sẽ dừng lại tại giai đoạn này một thời gian trước khi biến chuyển tới:

GIAI ĐOẠN 3: Ổn định: Đối tượng phát triển đến đỉnh điểm của năng lực, và đã tự đưa ra giới hạn cho hành vi của mình. Các Lục Thể chủ động nắm quyền kiểm soát những biến đổi hiện thực mà chúng tạo ra, và có thể điều khiển chúng theo nhu cầu. Quan trọng hơn, chúng có thể chọn không sử dụng năng lực của mình khi cần thiết. Điển hình cho các hành vi của giai đoạn 3 là những nỗ lực để duy trì một cuộc sống "bình thường". Đối tượng sẽ tiếp tục các hoạt động thường ngày, và ngoại trừ các nỗ lực để đề phòng sự mất kiểm soát của bản thân, sẽ chỉ sử dụng năng lực của mình khi không được chứng kiến, và chỉ theo cách không gây hại cho người khác. Các Lục Thể này có thể được phân loại vào Cấp độ Hiểm họa 1 (quan sát, không tiếp cận), nhưng cần được chú ý sát sao do có nguy cơ tiến triển tới giai đoạn 4.

GIAI ĐOẠN 4: Cậu ấm Cô chiêu: Có một điều đáng buồn, rằng phần lớn Lục Thể sẽ dần tiến triển tới Giai đoạn 4. Trong giai đoạn này, thực thể biến đổi thực tại trở nên ám ảnh với sức mạnh nó sở hữu và sẽ thử sử dụng sức mạnh để đoạt lấy lợi ích cá nhân, bất kể cái giá phải trả là tổn hại người khác phải gánh chịu. Nổi bật nhất trong giai đoạn này là sự thoái triệt khả năng thấu cảm với người khác, sự từ chối nhận trách nhiệm cho những sai lầm do bản thân gây ra, và sự gia tăng hoang tưởng về tầm quan trọng của bản thân mình.

Mặc dù có vô số dấu hiệu cảnh báo khác nhau, nhưng yếu tố chính xác định sự tiến triển đến Giai đoạn 4 là hành vi sử dụng năng lực để thao túng người khác. Những Lục Thể ở độ tuổi vị thành niên và thanh niên thường sử dụng năng lực của chúng cho mục đích tình dục…

-Cẩm nang Thực địa Phân hiệu PHYSICS 13: Các Tình huống Đặc biệt, Thực thể Hiểm họa Dạng người, Xuất bản năm 1984.

Ấy là ngày họ còn niên thiếu, vào lần đầu cô chạm đến anh.

Họ nằm trên giường nhà anh và trời đã tối, và Lilly biết anh chưa ngủ bởi anh cứ nhìn chăm chăm lên trần nhà nhưng dù sao cô cũng bắt tay vào chuyện ấy và tỏ ra là mình tưởng rằng anh đã ngủ, vì anh nợ cô. Anh nợ cô, vì thật là tệ hại, thật tệ hại khi cô luôn phải đặt ra câu hỏi và nghe anh nói không, khi cô thèm khát anh và luôn chỉ nhận lại được lời từ chối. Đôi khi chúng ta phải cam kết và hi sinh, anh tự nhủ với bản thân mình, khi ở trong một mối quan hệ. Đôi khi chúng ta phải để chuyện ấy xảy ra vì đối phương.

Để rồi trời đổ mưa và cô chạm lên ngực anh. Mưa rơi trên mái nhà và mưa rơi trên cửa sổ và tay cô rơi trên môi anh. Mưa đổ trên đường và mây trải trên trời và cô mó máy ngay phía dưới dải chun quần của anh, bằng những chiếc móng được mài giũa cẩn thận trên những đầu ngón tay. Ngọn đèn đường ngoài kia rọi qua màn mưa và cô mân mê vùng lông giữa hai chân anh và tim anh dồn dập và khi ấy anh nghĩ đó là sự kích thích nhưng sau này anh mới nhận ra rằng đó là nỗi sợ và cũng học được rằng có một ranh giới

mỏng

manh

giữa hai khái niệm ấy,

Và tay cô dịch xuống sâu hơn,

Và anh cảm nhận được hết thảy,

Và cô chạm đến phần da mềm chen giữa đùi và cậu nhỏ của anh,

Và tim anh đập mạnh và ngực anh quặn thắt,

Và cô di di hai ngón tay của mình và mân mó anh và anh để cô tiến tới vì anh nợ cô,

Anh nợ cô,

Anh nợ cô,

Chúng ta cần phải làm được điều gì đó vì tình yêu mà.

Những ngón tay cô đang đặt trên dương vật anh và anh nghĩ, cương lên đi. Hứng lên đi. Mày thật may mắn vì có được nàng. Cô cuộn mình lại gần anh, mái tóc vàng và thân hình thon thả và cơn mưa ngoài kia, nằm trên giường trong chiếc quần jeans, uốn mình qua những dải ánh đèn đường màu cam len qua cửa chớp.

Mày phải làm gì đó.

Cả bàn tay cô giờ đã luồn dưới quần anh, và nỗi sợ phập phồng trỗi dậy trong anh biến thành trăm ngàn sợi dây ghìm giữ anh bất động tựa một con nai bị đèn pha rọi chiếu. Anh như đóng băng. Trái tim anh thình thịch đập trước hình bóng cô; trong giây lát anh tưởng như cô là một con dã thú sắp nuốt chửng lấy mình, là thứ gì đó góc cạnh, xương xẩu và quyền lực, thứ gì đó lởm chởm hàm răng nanh trong miệng, và ngay khi cô chạm đến đầu dương vật anh, cảm giác ấy ập tới chóng vánh đến độ tai anh ù cả đi và anh vô thức ghì lấy cánh tay cô hơi quá mạnh bạo, hơi quá bất cẩn, hơi quá vội vàng.

"Francis" Lilly ngân nga. Nghĩ lại, anh cho rằng đây là lần đầu tiên họ nhào đến với nhau, lần đầu tiên cô dợm bước vào nơi mà khi được sống một cuộc sống khác, anh biết đó gọi là giai đoạn hai; giai đoạn của quyền lực, của sự kiểm soát.

Cô là một nữ thần, và đó chẳng phải điều gì tốt đẹp.

Trong thoáng chốc, Francis đã nghĩ cô sắp sửa vứt bỏ anh vì anh dám to gan đến nỗi chạm vào cô. Đôi mắt cô mờ mịt đi sau làn ánh sáng và từng chỏm xương sống của cô lộ dần từ dưới lớp da; cô chộp lấy bàn tay còn lại của anh và dí nó vào hông mình, phía dưới lớp áo, và anh có thể sờ thấy mép quần lót cô trong lúc đầu óc trống rỗng vô hồn giữa cơn choáng váng nhưng cảm giác nổi lên trong anh lúc ấy không giống như cách anh muốn cảm nhận nó và anh ghét điều đó, ghét điều đó, ghét điều đó-

"Francis." Cô cất lời khi anh chật vật, cố gắng giằng bàn tay mình ra khỏi tay cô, rời khỏi người cô, và lần này đó là một lời cảnh báo. Bàn tay còn lại của cô vẫn đang đặt trên dương vật anh, căng cứng, và cả thế giới như đông đặc lại, chói lóa, lấp đầy bởi ánh sáng mập mờ của nỗi sợ tái tê như thể có đám giun chỉ ngó ngoáy run mình dưới da anh. Bàn tay kia của cô đưa tay anh trượt xuống phía dưới mép quần lót, và một bóng dáng bỗng hiện ra ở đó với cặp sừng trên đầu như thể những ngày họ còn là hai đứa trẻ, nhưng những gì anh thấy được chỉ là một mảng tối in bóng trên bức tường đối diện với đường viền đỏ rực tạo ra bởi ánh đèn cam đương nhấp nháy rọi vào từ cửa sổ. Ngực anh như có thứ gì đó đè lên và linh hồn anh cảm tưởng như bị lèn chặt và thế giới chìm trong mê man và tất cả những gì anh nghĩ chỉ là làm sao chuyện này lại diễn ra quá nhanh như thế và làm sao quãng đời họ cùng nhau lớn lên cũng đã trôi qua thật nhanh, quãng đời mà họ cùng nhau đóng giả những phân cảnh trong Poltergeist và chuyển kênh radio bằng những ý nghĩ của mình và bẻ cong đồng xu mà không phải chạm vào chúng và em, em, em với những chiếc sừng và móng guốc khi em muốn có chúng và em với cái miệng đầy ắp những răng và em với cơn đói cồn cào hơn hết thảy những cơn đói trong anh và đó đã có thể là những dấu hiệu đầu tiên, khi anh nhìn lại, rằng Francis vốn dĩ nên chạy khỏi cô - cô cùng cái bóng giận dữ với những giọt nước nhỏ tong tỏng và cô cùng cái lưỡi ngày càng sắc nhọn và có thể đâm mỗi lúc một sâu hơn khi nó dần lớn lên và cô cùng cả ngàn con mắt của mình khi anh chỉ có ba con mắt và cô với bàn tay bao bọc lấy dương vật anh đêm ấy trong cơn mưa nhưng Francis vẫn còn trẻ và chẳng biết gì hơn thế và Francis tin cô hơn hết thảy mọi người và Francis có lẽ còn từng yêu cô theo cái cách nơm nớp lạ kì, vì khi ấy Francis đã không bỏ chạy đi và Francis chưa từng làm vậy cho tới khi mọi chuyện khép lại tận năm năm sau đó.

Anh giật mạnh tay cô ra khỏi chiếc quần đùi của mình. Cô không nói một lời nào với anh suốt cả tuần sau đó, nhưng anh vẫn cảm thấy trên người mình những vệt móng sắc nhọn và những đầu ngón tay cô suốt cả một năm sau.

Và anh còn bắt chéo chân khi ngủ một khoảng thời gian dài sau đó nữa.


Mã Vật thể: SCP-4231

Phân loại: Euclid

Quy trình Quản thúc Đặc biệt: SCP-4231 tồn tại trong vùng quản thúc 4231. Vùng quản thúc 4231 phải được bao quanh bởi hàng rào dài 4 dặm (6,44 km) dưới vỏ bọc là tài sản của chính phủ. Cửa trước và cửa sau của SCP-4231 phải được thay thế bằng cửa ra vào khu vực quản thúc bằng kim loại cấp độ 6, và mọi cửa sổ tầng một đều phải được bịt kín để ngăn chặn sự xâm nhập từ bên ngoài. Lối vào SCP-4231-2 phải được quản thúc bằng một tấm gỗ dán hình vuông cạnh 34 feet (10 m) đặt phía trên lòng hồ, được ngụy tạo là một cách thức sửa chữa hố sụt. Chỉ được phép ra vào SCP-4231-2 qua tầng hầm của SCP-4231. SCP-2317 phải được dời đi và đưa vào cơ sở quản thúc riêng của Tổ Chức.

Mô tả: SCP-4231 là một ngôi nhà ba tầng đồng thời là cơ sở của một hộ kinh doanh cá thể đặt tại nơi trước đây là thị trấn North Access, Cornwall, và từng là nơi cư trú của hai Lục Thể, SCP-4231-A và SCP-4231-B.

SCP-4231-A là một phụ nữ có chiều cao 5'7" (170 cm), 28 tuổi, cân nặng 150 pounds (68 kg). Da trắng. Mắt nâu. Tóc vàng. Đã từng mang thai không lâu trước khi chết. Chết bởi một phát súng bắn vào sọ não; thi thể được tìm thấy trong phòng ngủ tầng trên của SCP-4231. Được khắc họa là người bạo hành SCP-4231-B trong mọi sự việc in dấu chấn động hiện thực tại nơi này.

SCP-4231-B là một nam giới có chiều cao 5'3" (160 cm), 27 tuổi, cân nặng 145 pounds (66 kg). Da trắng. Một mắt màu lam, một mắt màu lục. Tóc vàng. Ở thời điểm tìm thấy, có dấu hiệu căng thẳng tâm lý trầm trọng; không thể đáp lời đội phản ứng một cách trôi chảy. Mũi từng gãy nhiều lần. Có nhiều sẹo chấn thương kín ở phía sau đầu, bả vai, hông. Liên tục nôn mửa ra nước và máu. Thang đo Kant cho kết quả cấp độ 4 vào thời điểm giải cứu; kết quả đo hạ xuống còn cấp độ 3 sau khi được dưỡng thương. Có nhiều dấu hiệu tổn thương tâm lý nặng sau khi hồi phục. Đã được cho phép thực hiện Tạm ân xá Quản thúc Có giám sát (CMP) vào 1/06/1990 với điều kiện phải ở lại trong các cơ sở của Tổ Chức (xem tài liệu nhân sự được đính kèm).

Các hiệu ứng dị thường của SCP-4231 được cho là kết quả trực tiếp của khoảng thời gian có Lục Thể sinh sống lâu dài với nhiều hành vi bạo lực tại đây, kết hợp với hậu quả khi kích hoạt SCP-2317, thứ ban đầu được lưu giữ trong SCP-4231-3 ở ngay dưới nền đáy hồ North Access. Các thị trấn xung quanh có dấu hiệu trải qua lũ quét cực đoan và phong hóa, và hiện vẫn chưa có người sinh sống do sự kiện 4231-CORNWALL đã có những bước phát triển mới gần đây (xem tài liệu 4231-SCRANTON). Bản thân hồ hoàn toàn cạn nước, và thị trấn North Access vẫn tiếp tục là một vùng liên tục bị cô lập và chịu tác động của hạn hán từ năm 1989.

SCP-4231 nằm bên cạnh hồ nước thuộc vùng quản thúc 4231, đồng thời bao gồm phần nhà ở tại tầng trên, khu vực kinh doanh được quan sát thấy có khả năng thuộc về một cửa hàng hoa ở tầng dưới, và một tầng hầm mở rộng ra phía dưới đáy hồ nước bên cạnh để nối liền với các gian phòng là nơi lưu giữ SCP-2317 (SCP-4231-3) bằng một hành lang hẹp. Phần trên mặt đất của SCP-4231 - được định danh là SCP-4231-2 - có sự tăng cường in dấu chấn động hiện thực bởi Lục Thể, từ đó sinh ra các dị tính. Chiều không gian bỏ túi này được xác định là điển hình hoàn thiện nhất về in dấu chấn động hiện thực cho đến ngày nay, đồng thời được nghiên cứu rộng rãi và liên hệ với các vấn đề về tâm lý, khuynh hướng bạo lực và bệnh tâm thần của Lục Thể. SCP-4231-2 bao gồm một phòng bếp, một phòng tắm, một phòng ngủ, một phòng trẻ em, một phòng khách, và hành lang kết nối tất cả các địa điểm này lại với nhau. Cường độ của các hoạt động dị thường bên trong SCP-4231-2 dao động mạnh theo thời gian, và gần như không tuân theo quy luật nào. Về danh sách các hoạt động dị thường, xem tài liệu SCP-4231-2-A.

Tầng hầm của SCP-4231 là một tầng hầm chưa hoàn thiện chứa đồ gia dụng bình thường, với một lối vào SCP-4231-3 được ngụy trang phía sau chúng.

4231-3.png

Sơ đồ của SCP-4231-3. Chú thích nằm trong tài liệu đi kèm. Nhấn để phóng to ảnh.

SCP-4231-3 là một cấu trúc lăng mộ có niên đại từ thời Trung cổ châu Âu nằm phía dưới nền đáy lòng hồ North Access, Cornwall, được kết nối bằng một cầu thang đá đi xuống từ tầng hầm của SCP-4231. Nó bao gồm 11 khu vực:

SCP-4231-3-1-7: Các buồng giam bằng đá cùng kiểu có kích thước dài và rộng 5 mét với cửa sắt; ban đầu được dùng để giam giữ SCP-231-2 tới SCP-231-7. Khóa cửa vốn dĩ không thể phá được bằng các cách thức không dị thường. Sáu ngày sau khi địa điểm được phát hiện, các chuyên gia huyền thuật đã thành công trong việc phá hủy các khóa buồng giam tới mức độ có thể can thiệp được, cho phép tất cả các cá thể SCP-231 được di dời. Các cửa khác bị để mở một cách có chủ đích ở tất cả các phần còn lại của cấu trúc trên.

SCP-4231-3-8: Khung cửa của SCP-2317. SCP-2317 bị di dời và được vận chuyển tới nơi quản thúc chính thức không lâu sau khi được phát hiện, để lại một bức tường đá không có gì đáng chú ý (có thể thấy SCP-2317 luôn được coi là lối đi xuyên qua các chiều không gian thay vì dẫn tới một căn phòng ở bên cạnh, và đã được gắn lên tường khi không có cấu trúc nào ở phía bên kia cánh cửa).

SCP-4231-3-9: Phòng lưu trữ di vật. Lối vào phòng được chặn lại bởi 2 cánh cửa sắt giống hệt nhau. Nghiên cứu khảo cổ học và phân loại với phạm vi rộng đã được thực hiện ở buồng thứ 9, với khoảng 1,943 di vật riêng biệt được thống kê (xem tài liệu SCP-4231-3-A để có danh sách đầy đủ). Các di vật đáng chú ý gồm có đúng 500 chiếc xương người được trang trí bằng nhiều loại dây và vải (loại xương và loại đồ trang trí là đa dạng trong cả bộ sưu tập), bảy bàn tế lễ được trang trí cầu kỳ, và hình khắc một con quái vật có sừng và một mắt, được cho là giống với SCP-2317.

“Kiềm tỏa kinh” (dịch từ trang 274 của Kinh Erikesh):
"Kiếp trước, ta từng là một con quái vật quyền năng bị một ngôi làng biến thành nô lệ, ở đó ta phải kéo cho chúng biết bao nhiêu xe ngũ cốc. Ta được cho ăn, có chỗ ở và sống lẫn lộn cùng với chúng, nhưng ta là tất cả ngoại trừ một tạo vật nói thứ ngôn ngữ của chúng, và ta bất bình vì điều đó. Một đêm nọ ta thoát khỏi những xiềng xích của ta và thấy bản thân mình chạy loạn xạ trong rừng, và khu rừng thực sự đã biến dạng quanh ta; chân ta là gió lốc và thân thể ta là sấm rền. Ta mang đến sự tàn phá mà ta còn chẳng cảm nhận thấy, và mặt đất cúi mình nhường bước ta. Ta chạy suốt bảy ngày bảy đêm, mang ôn dịch tới tất cả những gì trong tầm nhận thức của ta. Chúng gọi ta là ꙮ, thuem, kẻ chăng tơ, kẻ tàn tạ. Vào đêm thứ bảy ta bất cẩn vì mệt nhoài và thế gian không uốn mình quanh ta. Ta ngã xuống một thung lũng nông và rơi vào Lục Hà, cổ ta đập vào đá mòn, con sông thần thánh nhấn chìm ta trong ánh sáng của muôn vì tinh tú và đun cho thịt rục khỏi xương ta. Chẳng có tạo vật nào đến với ta, vì chẳng tạo vật nào cùng ta bằng vai phải lứa. Con sông chở ta đi; ôi khi ấy ta đã đớn đau đến nhường nào! Cái cổ gãy của ta nằm liệt trên bờ một dòng sông chảy qua cánh đồng của một người nông dân, người đang chăn súc vật. Người nói với ta, "Ta không phải Kether, nhưng ta sẽ cứu ngươi, như cách ngươi sẽ cứu ta." Người đọc một trích đoạn thần thánh của Màu Lục và khắc lên cổ ta những ngôn từ của sự tha bổng, và gói nó trong vải và dây bện. Ta bảo vệ gia đình người suốt bốn thế hệ; chẳng linh hồn hay tạo vật nào dám thách thức ta. Thế hệ thứ tư cầu phúc cho ta và bày tỏ ơn huệ với ta và đưa thân xác ta vào trong ngọn lửa thần thánh. Hoa dại đã nở trong tro tàn của ta. Sức mạnh của ta trở về lòng đất, và ta an nghỉ trong yên bình. Chao ôi, chao ôi, chao ôi; vĩ đại thay vị Xích Thần kiềm tỏa những thiên thần của người trong sông nước. Nguyện cầu thiên đàng hãy khoan dung với cốt xương ta cho tới ngày Chúa tể chọn kéo ách ta thêm lần nữa."

SCP-4231-3-10: Hành lang đá dài 30 mét, được chiếu sáng ngắt quãng bằng đuốc. Nhiều hình chạm khắc diễn tả các cảnh tượng trong Kinh Erikesh được dùng để trang trí tường (xem tài liệu SCP-4231-3-B để có bản dịch đầy đủ)

SCP-4231-3-11: Cầu thang đá nối dài từ tầng hầm của SCP-4231.

Hiện không rõ cách SCP-4231-3 được gắn trực tiếp vào ngôi nhà SCP-4231, khi các dữ liệu chính thức ghi nhận ngôi nhà này được xây vào đầu năm 1974. Điều này làm dấy lên nghi hoặc rằng SCP-4231-3 có thể là một bản sao tỉ mỉ hoặc tạo tác của SCP-4231-A dựa trên ngôn từ của Kinh Erikesh. Giả thuyết này chưa được khẳng định hay bác bỏ. Một điều khác chưa rõ là bằng cách nào SCP-4231-3 hoàn toàn không bị ngập lụt hay tổn hại sau Sự cố Cornwall, và vì vậy các cá thể SCP-231 được bảo vệ khỏi hiểm họa.

Tầng một của SCP-4231 là một cửa hàng hoa đã ngừng hoạt động.


2 tháng Mười hai, 1988

Anh thức dậy vào sáng sớm khi Lilly đang ở bên anh và đứa trẻ trong bụng cô vẫn còn chưa biết đạp. Anh vẫn cảm nhận được những gì cô đã làm với anh – những gì cô đã làm trong ánh hoàng hôn – những vết bầm dưới thắt lưng anh, trên xương chậu anh, và – anh chẳng muốn nhìn kĩ đến thế vào thân thể mình. Đã hai ngày rồi anh chẳng rời giường. Anh thấy rã rời, như thể cánh tay anh chẳng còn là cánh tay anh nữa và anh hiện diện ở vị trí lệch về bên trái một chút so với thân xác mình. Đây là lần đầu tiên anh trải qua cảm giác ấy kể từ cái đêm bên bờ hồ nọ. Và đây chắc chắn không phải lần cuối cùng anh chịu đựng nó.
Francis đứng gần cửa phòng ngủ trong giây lát, cố gắng động não xem liệu những rung động trong tai anh là thật hay không, và cơ thể anh có tồn tại ở đây thật hay không. Anh không biết mình sẽ đi tới đâu, nhưng khi anh mở cánh cửa ngăn giữa phòng ngủ và hành lang anh chợt hiểu rằng anh chẳng có nơi đâu để đi cả. Cánh cửa phòng tắm bên kia hành lang đã biến mất. Căn bếp phía bên trái cũng không thấy tăm hơi.

chẳng biết ngay từ đầu chúng có tồn tại hay không, anh thắc mắc. Nhưng Francis không phải kiểu người sẵn sàng lượn lờ qua lại mà kiểm tra. Không phải bây giờ.

“Này?” anh lơ đãng gọi, tiếng gọi mỏng nhẹ đầy bối rối. Từ này nghe chẳng hề giống giọng anh nói ra. Nó vọng lại: này? này? này? này? này?

Và nếu giọng nói của anh va phải một ranh giới – đâu đó xa tít cuối cái hành lang vốn dĩ đã kéo dài ra quá căn nhà, dài qua lăng mộ, qua hồ nước và ra khỏi North Access để đến một nơi mà anh đã xây nên trong vô thức, nơi làn nước giãn ra thành vệt sóng dài vô tận và nơi mà mọi con đường anh thấy trong đời mình đâm vào ngõ cụt – anh đã không nghe thấy nó. Và nếu Lilly có nghe, cô cũng chẳng động tâm. Hay nếu có thứ gì khác vô tình nghe được-

Thôi nào.


Tài liệu SCP-4231-2-A

Loại hiện tượng Vị trí trong SCP-4231-2 Mô tả hiện tượng
Âm thanh Phòng bếp Cuộc cãi nhau kéo dài 2 phút, 34 giây. Mâu thuẫn nhỏ về tài chính.
Âm thanh Phòng tắm Tiếng chửi thề thoáng qua trong 3 giây với giọng điệu cười cợt.
Hữu hình Phòng khách (Lò sưởi) Nhiều giấy tờ được cho là bài tập của trường đại học đột nhiên xuất hiện cùng lúc với ngọn lửa trên nền lò sưởi. Cháy trong khoảng 3 giờ trước khi lửa tắt.
Âm thanh Phòng ngủ Lời nói lướt qua trong 10 giây. Nội dung về cân nặng của B, được liên hệ với tình hình mối quan hệ của A và B.
Âm thanh, Hữu hình Phòng bếp Cuộc cãi nhau kéo dài khoảng 10 phút, 24 giây. Đỉnh điểm của cuộc cãi nhau là vô số ý kiến từ A về thái độ khó chịu ra mặt của B trong cả các hoạt động mang tính lãng mạn lẫn các mong muốn, nhu cầu bình thường trong đời sống lứa đôi. Sự kiện in dấu chấn động hiện thực kết thúc bằng tiếng cánh cửa phòng ngủ đóng sầm lại.
Âm thanh, Hữu hình Phòng bếp Một cái đĩa xuất hiện trong vòng 5 giây, sau đó tự rơi xuống bàn bếp phía bắc và vỡ vụn.
Âm thanh Phòng tắm 1 tiếng, 14 phút cãi nhau chỉ bao gồm việc A đòi hỏi B nói thật.
Hữu hình Phòng ngủ Vết máu xuất hiện ở phía bên trái của giường. Thời gian trung bình của một lần xuất hiện là 19 phút.
Hữu hình Phòng tắm Thi thể một con mèo Maine Coon cái với nhiều chấn thương hiện ra ở tư thế vắt trên thanh treo rèm tắm. Con mèo giãy giụa trong 3 phút, 23 giây trước khi ngừng tất cả các dấu hiệu sinh tồn. Con mèo ở nguyên trạng thái treo trên thanh rèm trong 43 giờ, 21 phút trước khi biến mất.
Hữu hình Hành lang Hành lang kéo dài đến vô cực về cả hai phía. Hiện tượng chỉ xuất hiện vào ban đêm và kéo dài trong khoảng thời gian trung bình là 10 giờ, 34 phút.
Hữu hình Toàn bộ cấu trúc SCP-4231-2 Toàn bộ cấu trúc SCP-4231-2 bắt đầu được sao chép và nối dài liên tục theo chiều hướng lên trên; mỗi đầu hành lang được gắn với lối đi dẫn từ tầng một của SCP-4231 lên tầng trên, v.v… Các vòng lặp kéo dài trong suốt khoảng 80 giờ trước khi dị tượng dừng lại.
Hữu hình Cửa sổ phòng ngủ, tiếp theo đó là toàn bộ cấu trúc SCP-4231 Hiện tượng ban đầu có thể được nhìn thấy qua cửa sổ phòng ngủ: hai bóng dáng – A và B được nhìn thấy trên bãi biển phía dưới SCP-4231. Hai bóng dáng đi men theo bờ biển trong 12 phút, 17 giây trước khi ngồi xuống một khu vực bờ biển có nhiều đá, với A ngồi phía bên trái B. Hai bóng dáng nói chuyện trong 5 phút, 20 giây, trước khi A bắt đầu hôn B. B tỏ vẻ thuận theo. A đổi tư thế, quay mặt về phía B. A đặt một tay lên hông bên phải của B. A lần mò tới eo của B. B giật mình lùi lại và cất lời đáp trả A. A phản ứng lại và tiếp tục cởi thắt lưng B. B dường như đã bật cười lớn và tiếp tục phản kháng lại A bằng lời nói, nhưng A đáp lại phản hồi đó bằng thái độ hoàn toàn kiên quyết. A cởi thắt lưng B. B chuyển sang tháo khóa thắt lưng, điều này không nằm ngoài dự liệu của A. A dạng hai chân ra và đặt chân trái lên trên đùi B; B bị dồn ép và ngã đè lên đá. B đã từng ghé qua một sân bay tại Tucson, Arizona vào năm 1995 trong một lần quá cảnh, và vốn dĩ định rời khỏi quán bar đúng lúc anh nhìn ra một tập phim Law and Order2 đang được chiếu ở cái TV nhỏ nhòe nhoẹt gắn trên cao. Người đàn ông trong phim quả quyết rằng anh ta đã bị lạm dụng tình dục. B hiểu rõ những chuyện nào trong số những trải nghiệm của bản thân anh có liên quan đến tình dục, còn tình dục với anh chỉ đơn giản là đau đớn theo cái cách riêng mà nó khiến anh đau. Nhưng trước khi biết tới tập phim Law and Order phát trên cái TV tệ hại ở sân bay, B chưa từng có một ý niệm gì về chuyện những nhân tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý của anh sau khi bị bạo hành tới bảy năm liền bởi mối tình trung học có liên quan thế nào đến những sự việc ấy, bởi anh còn chẳng dám chắc liệu anh có ghét A vì những chuyện cô đã làm ra. Đôi khi, B vẫn yêu A, bởi A đã thề thốt rằng cô chỉ làm đôi ba việc như thế với B vì lợi ích của chính anh, và rằng khi đó B đã chẳng còn ai bên cạnh, còn một khi anh ở bên A, anh đã có một ai đó, và chuyện đó không phải lúc nào cũng tệ. Nên chiếc TV ở Tucson khiến anh bắt đầu nghĩ tới những gì đáng lẽ đã có thể xảy ra. Giờ B mới hiểu rằng có lẽ anh đã bị đối xử tệ thật sự, và trầm trọng hơn cả thế, có thể anh đã bị hiếp dâm. Những suy nghĩ về chuyện cái đội ngũ quản thúc sục sạo ngôi nhà nơi anh đã sống gần gũi với cô suốt bảy năm trời đã chứng kiến tất thảy những sự kiện này cũng lướt qua anh, khiến anh tha thiết muốn quên đi ý định xả ra tất cả, tất cả những chi tiết đó cho người khác nghe, dù đã nghĩ tới hành động ấy đến hàng trăm, thậm chí hàng ngàn lần, và anh cảm thấy xấu hổ lẫn ngượng ngùng đến tệ hại nếu như có người khác biết được chuyện này, bởi dù anh có được gọi là “B” trong những quy trình quản thúc mà theo đó anh vẫn được triệu tập đến mỗi năm một lần đều như vắt tranh để kiểm tra và để bị quấy rầy dưới danh nghĩa của khoa học về những chuyện anh đã trải qua trong căn nhà, và bản thân anh thực sự thoải mái hơn với việc không bàn thảo gì về tất cả những chuyện A đã làm với anh, và anh ước anh có thể rời Tổ Chức để kiếm một công việc ở một cái Walmart nào đó. Nhưng kể cả thế, B cũng chẳng dám chắc chắn rằng A đã đối xử tệ với anh, bởi B đâu phải kiểu người thích trải lòng với người ta, nói gì đến hiểu thấu được hằng hà sa số những chuyện khác trên đời bất kể chuyện tốt hay chuyện xấu. Vào cái lần tiếp theo B tỉnh dậy vào buổi sáng và thấy những dấu vết cũ A đã in hằn lên người mình từ năm 1989 được tiếp thêm một sức mạnh mới để ám ảnh thân xác anh của năm 1995, anh nghĩ có lẽ đã tồn tại một lý do để năng lực của anh phải phát tiết từ những xúc cảm trong anh đúng theo cách ấy. Và anh an lòng hơn chút ít. Nhưng anh lại càng sợ hãi. Nhưng bất kể chuyện có là thế nào, khi bóng hình của A trỗi dậy trong B, SCP-4231-2 đã bị nhấn chìm trong nước suốt 79 tiếng đồng hồ trước khi biến mất.

Trích đoạn từ tài liệu đã thu thập “Ca bệnh Đáng chú ý: SCP-4231-B”

Và tiếp theo, tất nhiên, chúng ta có B.

Tổ Chức dường như chưa bao giờ biết chính xác mình cần phải làm gì với B, một Lục Thể câm lặng tự nhốt mình trên tầng thượng ngôi nhà Montauk cùng đứa trẻ mới sinh của anh để thoát khỏi cơn lũ dị thường. Anh thuộc về một vùng xám nằm giữa một dị thể có thể quản thúc và một chứng nhân mắc kẹt trong thứ gì đó mà chính anh cũng không thể điều khiển. B – như đã thể hiện ra trong quá trình phỏng vấn – không biết gì về SCP-231, hay SCP-2317, hay, có thể nói thẳng ra là cả SCP-4231, cấu trúc thực tại anh đã vô tình tạo ra để thoát khỏi sự bạo hành của người bạn thân nhất thời thơ ấu. Khi các đội điều tra ban đầu tới được SCP-4231, một cuộc rượt đuổi đã diễn ra; họ đuổi theo B qua hết dặm này đến dặm khác chỉ có những lối đi lặp đi lặp lại và những hành lang quanh co nối dài từ mái nhà của SCP-4231, còn anh chỉ đơn giản là kéo chúng dài ra thêm. Khi các đội quản thúc phát hiện ra rằng họ đã không còn liên lạc được với chỉ huy ở North Access, họ bao phủ lấy anh bằng khí gây mê và kéo anh về lại với nhân sinh. Đã xảy ra một cuộc cãi cọ giữa các đội sau khi trở về mặt đất về việc có nên còng anh vào cái cáng họ dùng để chuyên chở anh hay không. Và đó là cuộc tranh luận đầu tiên trong số vô vàn lần như thế.

Vấn đề với B là anh đang ở trong trạng thái mà – theo như những quy luật thông thường xoay quanh Lục Thể vào thời điểm đó – không nên xảy ra ở anh: sang chấn tâm lý. Điều đó đã rõ ràng ngay từ khoảnh khắc anh được đưa về mặt đất. Chúng ta đang được chứng kiến một Lục Thể Cấp độ 3 mắc PTSD và có các triệu chứng rối loạn phân ly nghiêm trọng đến nỗi chúng được biểu hiện qua việc anh tái tạo những tổn thương của mình theo nhiều cách rõ ràng đến đau đớn: B nôn ra nước bẩn của trận lũ lụt anh đã cố gắng thoát ra. Anh thức dậy giữa những cơn ác mộng với nhiều vết bầm, vết thương ở một số vị trí nhất định trên cơ thể. Những giai đoạn phân ly của anh gây ra các dị tượng không gian cường độ nhẹ ở xung quanh. Một vài đặc điểm của con người B được củng cố theo thời gian, khi anh dần dần hình thành nên tính cách mới hoàn toàn để chống chọi lại những tổn thương; con người mới của B kì dị, gai góc, thậm chí có thể nói là gần như luôn khiến người khác phải bị kích động vì mình. Gánh nặng tâm lý cùng với những tổn thương thân thể đi kèm vốn khiến anh phải nằm liệt giường suốt hai tuần đầu ngay sau khi được giải cứu khỏi SCP-4231 đã biến mất hoàn toàn. Con người B mới này chẳng hay biết gì, hay, ít nhất, có vẻ chỉ nhận thức được tí chút về tất cả những biến chuyển mà cuối cùng đã đưa anh tới nơi này. Anh đã ngừng gặng hỏi về đứa trẻ, hay về A, hay về thị trấn North Access nơi anh đã sống cả cuộc đời. Những biểu hiện bức bách về cơ thể mình bị khơi dậy bởi Quy trình Montauk trước đây đều đã không còn nữa, hoặc đã được chôn giấu hết sức kĩ càng.

Nhưng những cơn ác mộng, những phen hồi tưởng, và những giai đoạn phân ly – cùng với hàng bao ngoại hành vi3 bẻ cong thực tại – vẫn còn nguyên đó.

Thực chất, con người mới của B dường như còn trân quý và tận dụng một vài khía cạnh nhất định của việc anh không còn khả năng kiềm chế bản thân tốt như trước Sự cố Cornwall. Triệu chứng rõ ràng nhất đã được các bác sĩ để ý từ khi B vẫn còn được chăm sóc y tế trong quản thúc chính là phản ứng mới hình thành của anh trước ống kính. Anh không muốn bị quay phim. Nhưng cho dù anh có kiên quyết khẳng định điều này bằng lời nói trước cả khi con người anh thay đổi, những bác sĩ điều trị cho B vẫn gán hành vi này với sự bất ổn tâm lý của anh và từ chối thuận theo những lời van nài tuyệt vọng chỉ muốn được ẩn danh không chỉ trên máy quay phim chụp ảnh, mà còn trong mọi khía cạnh của cuộc điều tra, một kiểu phản hồi có lẽ đã càng làm trầm trọng thêm những triệu chứng của anh. Còn sau khi sự chuyển mình diễn ra, anh chỉ đơn giản là che đi gương mặt mình trong mọi dạng phương tiện truyền thông được lưu trữ lại.

Vậy nên trường hợp này lại đặt Tổ Chức vào một tình huống đáng lưu tâm. Giờ đây họ đã đưa một cá nhân đang phải chịu đựng những tổn thương dữ dội nhất vào trong một cái lồng, và xây dựng một bàn thờ để sửa chữa anh. Cá nhân này yêu cầu sự ẩn danh, bao gồm cả việc loại bỏ tên khai sinh của anh ra khỏi mọi tài liệu. Tổ Chức từ chối làm theo, viện cớ là sự xác thực trong thông tin đi kèm với công cuộc theo dấu anh trong suốt phần đời còn lại. Anh yêu cầu không được quay phim chụp ảnh mình. Tổ Chức từ chối đáp ứng với lý do là những buổi phỏng vấn anh có tầm quan trọng sống còn đối với việc nghiên cứu, và cũng tương tự đối với những biểu cảm cùng ngôn ngữ cơ thể lẫn hành vi của anh. Anh yêu cầu Tổ Chức ngừng thăm dò mình về những thông tin liên quan tới các hành vi bạo lực và lạm dụng là nguyên nhân của Sự cố Cornwall, kể cả những gì dính dáng tới A, SCP-231, SCP-2317, hay SCP-4231, bởi một phần tương đối trong số những ký ức này dễ dàng gợi lại nỗi đau khổ trong anh và/hoặc đã bị lãng quên hay áp chế có chủ đích qua những sai lầm trong quá trình điều trị, hơn nữa một phần trong số chúng bao gồm những chuyện anh chưa bao giờ được biết. Tổ Chức không nghe theo, kiên định rằng sự an phận hợp tác của anh trong việc điều tra về Sự cố Cornwall cùng với tất cả những vật thể và thực thể đang được quản thúc là cấp thiết đối với khả năng can thiệp thành công của Tổ Chức. Anh đòi hỏi họ không kiểm tra dịch nôn mửa của anh. Anh đòi hỏi mình không bị ai động đến. Anh đòi hỏi họ bỏ những điện cực và thiết bị đọc Hume ra khỏi cả cổ lẫn xương sống anh, và họ di dời neo hằng thực ra khỏi buồng bệnh của anh. B chấp nhận được việc điều trị những rối loạn tâm lý sau sang chấn của mình đồng thời có phản ứng tốt với các thuốc điều trị cùng các giai đoạn đầu của liệu pháp giải tỏa tổn thương và điều chỉnh hành vi nhận thức – miễn là những gì anh nói ra chỉ có mình anh được biết, và không được ghi lại trong các tài liệu của Tổ Chức. Tất thảy những yêu cầu này đều bị Tổ Chức gạt đi, và tình trạng của B trong hai tuần quản thúc đầu tiên tồi tệ đi trông thấy. Anh yêu cầu – lặp đi lặp lại, cụ thể đến đáng ngạc nhiên – rằng anh phải được yên thân một mình và không nằm lại trong những ghi chép của Tổ Chức. Không phải chỉ bây giờ, mà suốt cả phần đời còn lại. Nhưng Tổ Chức đối xử với anh như thể anh là một con vật hay một mẫu thí nghiệm thay vì một con người, và từ chối lắng nghe.

Nên anh chỉ đơn giản là ngừng cho phép họ.

Điều này về bản chất không phải là một vụ vi phạm quản thúc theo tiêu chuẩn của Tổ Chức. B vẫn ở lại trong buồng giam của anh và không sử dụng năng lực của mình để đả thương người khác hay cố gắng vượt ngục. “Vi phạm quản thúc”, theo định nghĩa của Tổ Chức, chỉ áp dụng với trường hợp thực thể rời khỏi buồng quản thúc mà không có sự cho phép rõ ràng từ nhân viên Tổ Chức, nghĩa là nhiều hình thức chống đối ôn hòa của các dị thể, bao gồm tuyệt thực và từ chối giao tiếp với nhân viên hay từ chối di chuyển giữa các địa điểm khi được yêu cầu, thường hay được áp dụng. Sự chuyển mình hoàn toàn sang một tính cách mới ở anh ít có khả năng là hệ quả của bệnh rối loạn phân ly trở nặng hơn là việc anh cố gắng để trở thành một thực thể với cách ứng xử rõ ràng là cực kì vô lối và gây bức bối cho người khác đến mức những tương tác giữa anh với nhân viên chỉ dẫn đến kết quả là sự bực dọc và bất lực. Anh giờ đây từ chối mọi thuốc thang và liệu pháp để kiểm soát tình trạng của mình, tìm cách làm chệch hướng mọi cuộc trao đổi có liên quan đến bệnh tình của anh, sử dụng năng lực của mình để che giấu gương mặt anh trong mọi hình ảnh được lưu giữ lại, và chỉ đơn giản là phá hỏng bất kì thiết bị gì được đặt vào buồng giam để theo dõi tình trạng của anh. Anh giật bỏ dây truyền nước và điện cực đo điện tâm đồ, đập vỡ những thang đo Kant, đồng thời mạt sát và sỉ nhục có chủ đích các nhân viên. Những triệu chứng PTSD ở anh tiếp diễn với hậu quả trải dài từ những cơn kinh sợ trong đêm và hoảng loạn vô cớ đến các giai đoạn rối loạn phân ly và sự kiện biến đổi thực tại, nhưng anh đã học được cách giấu đi mọi sự thay đổi ngay khi có nhân viên tới xử lý, dẫn đến những tình huống có thể nói là nực cười: trên một đoạn phim nọ ta nhìn thấy một y tá chạy vào đánh thức anh giữa cơn ác mộng khi những vết thương vì bạo hành trên người anh lại hiện ra và bắt đầu rỉ máu. Cô gọi anh dậy rồi giúp anh nôn ra hết nước lũ như thường khi, sau đó hỏi han xem anh cảm thấy thế nào, và nhận lại được lời hồi đáp – tôi xin được trích nguyên văn – “Cặp giò ngon đấy, mặc quần ngắn tới bẹn xem nào cô em”4. Khi cô ấy rời đi, B đã tận dụng sự cô độc mà anh có được và bật khóc.

– Quý bà Agora, Chuyên gia ngôn ngữ ký hiệu, Dịch giả, Kẻ sùng tín đa thần. 4/23/1995.


Lợn (Mười ba Con)

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: SCP-4231-B

Hóa ra là chống đối ôn hòa. Có lẽ thái độ của tôi sẽ là đây không phải chuyện gì to tát cả, khi mà -17 đã từng giải quyết thành công nhiều vụ tuyệt thực tập thể suốt mấy năm qua. Một cá nhân không nên trở thành một vấn đề lớn của chúng ta.

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: re: SCP-4231-B

Tôi đang có cảm giác câu hỏi ở đây là nên hay không nên quản thúc. Khi xem xét mức độ thích đáng của vấn đề này, tôi nghĩ tốt nhất là liệt kê ra tất cả thông tin chúng ta có được ở đây:

- Lục Thể Cấp độ 3 giới tính nam ở độ tuổi giữa hai mươi và ba mươi. Kiểm soát bản thân tốt, biểu hiện tính cách điềm tĩnh, biết kiềm chế năng lực của mình. Có xu hướng coi chúng là khiếm khuyết về thể chất hơn bất kể điều gì khác.

- Đã từng hoạt động trong Chiến dịch Ichabod đã kết thúc vì hao tổn quân số của GOC dưới mật danh "Ukulele". Chắc chắn là làm việc không tệ. Thành tích lận lưng tương đối đáng gờm - đáng gờm đến mức gần như ám ảnh, và trong số những chiến công gần đây nhất của anh ta có vài ca khá gây kinh hãi đấy.

- Đã từng có một mối quan hệ mang tính lạm dụng với một Lục Thể khác (SCP-4231-A, hay SCP-231-1 tùy vào việc khi đó chúng ta trao đổi với ai) trong bảy năm vừa rồi. Hiện tại không rõ ai là kẻ bạo hành, do thiên hướng lạm dụng người khác cố hữu ở các Lục Thể nói chung. Chúng ta sẽ có thêm thông tin về vấn đề này sau.

- Sát hại SCP-231-1 không lâu sau khi cô ta sinh ra đứa con của họ, đứa trẻ đã bị tách rời khỏi quyền giám hộ của SCP-4231-B tại hiện trường. Thời điểm sinh ra đứa trẻ trùng khớp hoàn toàn với Sự cố Cornwall.

- Bị truy đuổi bởi các đội đặc nhiệm trong khoảng hai mươi tư tiếng đồng hồ, nhưng đã cố gắng chạy khỏi hiện trường trong thời gian dài hơn.

- Cực kì bất ổn về tinh thần. Dưới đó đang cho rằng tình trạng hiện tại là PTSD, cùng một số triệu chứng rối loạn phân ly nghiêm trọng. Năng lực bẻ cong thực tại phát tiết trùng khớp với những khoảng thời gian hồi tưởng và khi biểu hiện triệu chứng bệnh tâm lý. Gặp vấn đề về giấc ngủ, vấn đề về giao tiếp, vấn đề về trí nhớ và khả năng ở yên tại chỗ. Toàn những điều khá là kinh khủng.

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: re: re: SCP-4231-B

"Hiện tại không rõ ai là kẻ bạo hành, do thiên hướng lạm dụng người khác cố hữu ở các Lục Thể nói chung."

Điều này hiển nhiên là sai. Chúng ta biết rõ rằng A là kẻ bạo hành và cũng là kẻ gây nên cả cái màn kịch chết tiệt này, và chúng ta có những dấu vết chấn động hiện thực do B gây ra tại khu vực nhà ở trên tầng hai làm vật chứng, cùng với lời khai của anh ta.

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: re: re: re: SCP-4231-B

Tôi không tin lời khai của anh ta. Anh ta giết chết người còn lại mà, phải không? Anh ta cũng có thể dễ dàng dựng nên cả câu chuyện này để làm bình phong, kể cả các dấu vết chấn động hiện thực. Nhìn những bằng chứng đi. Nếu anh ta đã làm việc cho Ichabod suốt ngần ấy năm, chắc hẳn anh ta đã thấy được đủ các thể loại in dấu từng có trên đời, và có lẽ thừa biết phải làm thế nào để tạo ra những dấu vết thuyết phục không tài nào bàn cãi như thế. Ngay đến chính sự thay đổi tâm tính đột ngột này của anh ta còn khiến cái việc anh ta đóng giả nạn nhân lộ liễu thêm nữa là. Và tại sao anh ta phải chạy đi? Hơn nữa 8 cũng đã nhắc đến những chiến công khiếp hãi vào cuối khoảng thời gian anh ta ở Ichabod. Tôi không nghĩ anh ta điềm tĩnh một chút nào. Tôi nghĩ anh ta đang biến tất cả chúng ta thành một trò hề.

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: re: re: re: re: SCP-4231-B

Nếu như anh ta đang đùa giỡn với chúng ta, thì giờ chúng ta đã biết cả rồi. Chỉ số Kant của anh ta phải cao banh nóc nhà. Và chúng ta thì đã chết ngắc.

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: re: re: re: re: re: SCP-4231-B

Có rất nhiều chuyện để nói ở đây, nhưng cái mà tôi thắc mắc nhất lại liên quan đến chính Montauk.

Nếu A là kẻ bạo hành, cô ta cũng phải là người thực hiện Quy trình Montauk, không chỉ với B mà còn cả với SCP-231-2 đến SCP-231-7. Có một điểm mấu chốt là làm thế nào cô ta có thể thụ thai cho những cô gái kia mà không có sự trợ giúp của SCP-4231-B, và nếu như anh ta có liên quan, thì thế là đi tong màn kịch rằng anh ta chẳng biết gì về quy trình đã diễn ra nói riêng và sự hợp lý trong câu chuyện bị bạo hành của anh ta nói chung.

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: re: re: re: re: re: re: SCP-4231-B

Biến đổi hình dạng bộ phận sinh dục và cơ thể không phải chuyện hiếm thấy ở Lục Thể, nhất là ở những trường hợp cơ thể dị dạng hoặc mặc cảm ngoại hình. Còn về việc B bị lạm dụng tình dục - điều này cũng không đáng ngạc nhiên với tôi, nhất là nếu như B bị cưỡng ép hay chịu đựng áp lực phải chấp thuận trước nguy cơ bạo lực. Chúng ta có biên bản giải phẫu tử thi của A chưa?

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: re: re: re: re: re: re: re: SCP-4231-B

Scranton đang làm rồi. Khi nào anh ta xong, chúng ta cũng cần thảo luận xem chúng ta sẽ trả lại thi thể cho B hay để đội ngũ neo của Robert sử dụng nó.

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: re: re: re: re: re: re: re: re: SCP-4231-B

Nghĩa là B không có chút quyền quyết định nào về vấn đề người bạn đời của anh ta, và cũng không có quyền hạn gì liên quan tới đứa trẻ? Chúng ta có định cho anh ta chút cảm giác tự chủ nào không đây?

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: re: re: re: re: re: re: re: re: re: SCP-4231-B

Nếu vậy chúng ta lại phải quay về vấn đề "quản thúc hay không quản thúc". Nếu như anh ta đáng bị quản thúc, vậy thì chúng ta có mọi quyền hành để đưa đứa trẻ đến với những bàn tay có thể chăm sóc nó tốt hơn, và theo đó có thể làm bất cứ điều gì chúng ta muốn với thi thể kia. Chúng ta cũng không thể bỏ qua sự thật rằng B là một kẻ sát nhân, kẻ đã giết hại A - liệu chúng ta có muốn để một kẻ sát nhân có quyền hạn gì đối với đứa con của anh ta, hay với thi thể của vợ anh ta, hay có được quyền tự chủ nói chung hay không? Còn đối với những thay đổi tâm lý của anh ta - theo tôi thấy thì anh ta đang mắc bệnh tâm lý rất nặng, và điều đó càng cho thấy lựa chọn sáng suốt là quản thúc vì chính sự an toàn của anh ta và sự an toàn của những người khác bất kể vai trò của anh ta trong sự kiện ở Cornwall.

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: re: re: re: re: re: re: re: re: re: re: SCP-4231-B

Anh ta hiển nhiên cần phải có quyền tự chủ theo góc nhìn của tôi.

Từ: [DỮ LIỆU BỊ XÓA]

Đến: O5 [nhóm]

Chủ đề: re: re: re: re: re: re: re: re: re: re: re: SCP-4231-B

Chào tất cả mọi người,

Tôi thấy rằng mọi người đều đang có nhiều mối quan tâm đối với vấn đề này. Có rất nhiều chuyện cần đào sâu thêm, và bởi quá trình xử lý thông tin mới chỉ bắt đầu được hai tuần, tôi tin rằng sẽ có thêm những thông tin khác trong khoảng thời gian tới. Những vấn đề về quyền tự chủ của B, cùng với quyền làm chứng cho bản thân của anh ta và việc từ chối hay chấp nhận các quá trình thử nghiệm, là những vấn đề dành cho Hội đồng Đạo đức; tôi chỉ đề xướng cuộc họp mặt Hội đồng tiếp theo với một mục đích duy nhất là bàn luận về cách xử lý tình huống quản thúc SCP-4231 cùng vô vàn các vật thể đi kèm với nó.

Ở thời điểm này, SCP-231-2 đến SCP-231-7 đang được giữ tại các buồng giam an ninh cấp cao của Điểm-17 cùng với SCP-4231-B. Đứa trẻ có vẻ đang ở trong tình trạng tương đối ổn thỏa, và đang được giữ trong điều kiện an ninh cấp thấp hơn với các chế độ chăm sóc phù hợp với độ tuổi quá nhỏ của cô bé. Các giải pháp thay thế theo phương hướng tìm người nhận nuôi ở vùng Cornwall đang được cân nhắc trong khoảng thời gian này. Làm ơn đừng quên hành động cẩn thận hết mức có thể đối với các vấn đề liên quan đến quy trình Montauk, các chi tiết của quy trình này hiện đang được trích lọc từ Kinh Erikesh và sắp xếp cùng với những bằng chứng mới tìm thấy ở địa điểm khảo cổ SCP-4231-3. Việc quản thúc SCP-4231-B hiện tại đang dừng lại ở theo dõi y tế cơ bản. Thử nghiệm sẽ được tiếp tục khi những quyết định cuối cùng về sức khỏe tâm thần, mức độ liên quan, cấp độ hiểm họa, và quyền của anh ta được đưa ra. Tôi đang quan ngại về khả năng tồn tại vấn đề nghiêm trọng hơn liên quan tới nghi thức Montauk, và các hậu quả dễ dàng nhận thấy mà nó sẽ đem tới. B là mối quan tâm ít quan trọng nhất của chúng ta ở thời điểm hiện tại. Chúng ta hiện không còn nhiều thời gian. Tôi sẽ thông báo ngày giờ họp hội đồng trong thời gian ngắn.

Tạm biệt,

O5-1


Về Buồng giam Montauk: Trích đoạn từ tài liệu đã thu thập năm 1994 "Ghi chú về Montauk"

Tổ Chức không hề lơ là dù chỉ một chút đối với những buồng giam của họ.
Thật dễ dàng để chúng ta, những người quan sát từ bên ngoài, coi các buồng giam như một phần phụ chú đi kèm với một chỉnh thể phức tạp hơn. Chúng ta thường gặp phải những tình huống như vậy; trong phần sơ lược của mỗi bản báo cáo ta đều được thấy Quy trình Quản thúc, một mẩu văn bản ngắn được soạn ra vội vàng bởi những chuyên viên viết báo cáo và những ai hiểu rõ thứ được giữ trong buồng giam là gì. Vật thể phân loại Safe được khóa lại trong một ô tủ. Dị thể dạng người, quản thúc trong một căn buồng. Những buồng giam chỉ là các thực thể thứ yếu; mối quan tâm của chúng ta thường chẳng hướng đến vật chứa, mà là thứ trân bảo nó cất giấu bên trong, và đây là cách mà những quy trình quản thúc bị ngó lơ bởi những người mà nó thường không gây ảnh hưởng.

Đó là một điều hiển nhiên khi Tổ Chức tuân thủ vô cùng chặt chẽ những lời được ghi trong hồ sơ quản thúc, một bản tóm tắt gọn ghẽ đến đáng kinh ngạc đúc kết từ hàng chồng hàng xấp những dữ liệu thử nghiệm chưa xử lý, những thủ tục giấy tờ, những tháng năm quan sát dài đằng đẵng. Không, nói đúng hơn, phải thật ngớ ngẩn khi nghĩ rằng Tổ Chức chịu đầu tư chừng ấy thời gian và công sức mà chẳng đổi lại được gì, và trong thực tế những con người chỉ được tiếp xúc với hồ sơ quản thúc như chúng ta đã bỏ lỡ vô số điều thần diệu theo kiểu Disney World được gửi gắm vào trong những buồng giam, khi mà phần lớn những chi tiết như vậy trong các hồ sơ quản thúc được chúng ta coi là thông tin không thiết yếu. Tổ Chức duy trì các nhân sự riêng cho công việc này. Nếu công việc của bạn bao gồm việc đọc những bản báo cáo tóm lược, bạn không phải một trong số họ. Nếu bạn là một trong những con người ấy, công việc của bạn sẽ không hiển hiện trong bản báo cáo chính thức, mà là trong việc ứng dụng nó. Các Kĩ sư Quản thúc của Tổ Chức đánh giá hàng chồng hàng xấp thông tin từ các đội quản thúc và thiết kế nên thứ gì đó gần như là một nhà tù, một kiệt tác kiến trúc - mà đôi khi người ta cũng gọi đó là nghệ thuật - và họ làm công việc ấy hàng ngày, với mỗi SCP được chúng ta lưu giữ trong hồ sơ. Vĩ đại phải không? Một buồng giam 5x5 cho một dị thể điện hóa biến thành một căn phòng quản thúc thuần túy sử dụng cơ năng và vắng bóng mọi thiết bị điện. Phòng riêng của một thực thể bẻ cong thực tại nhỏ tuổi dùng giấy dán tường màu hồng để che đi lớp gia cố thép và những đĩa ép được gắn lên có tính toán cùng những nút bấm báo động bên trong. Các kĩ sư đọc bằng hết một lượng giấy tờ nhiều đến vô tận và bàn bạc với nhau; họ tìm kiếm cốt lõi của tất cả những gì cần thiết. Công việc của họ là xây nên một nhà tù cùng một tổ ấm lẫn một công cụ cho khoa học và cả những bàn thờ, đúng, họ xây dựng cả những bàn thờ, và chao ôi chúng được chăm nom thật cẩn thận biết bao, được giữ gìn quy củ biết bao.

Chẳng có lấy một sợi tóc nằm sai chỗ trên mỗi bàn thờ mà Tổ Chức xây nên. Đó là một nhịp cầu nối giữa khoa học và tôn giáo. Máu heo được đo theo từng lít bằng những xi lanh chia độ trong một phòng chuẩn bị và lũ mèo đen được gây dòng thuần chỉ để phục vụ mục đích sát sinh. Thật nực cười thay cái cách mà Tổ Chức bền bỉ thờ phụng một trăm, hai trăm, ba, bốn, năm trăm vị thần giận dữ. Đến cả những tín đồ sùng kính nhất của một vị thần bị quản thúc cũng chẳng nhẫn tâm đến thế này; chẳng có vụ chém giết nào từng xảy ra trên ban thờ và chưa vết máu nào từng đổ trên sàn của một nhà thờ đang mục ruỗng nơi rừng thẳm hoang vu. Đó là một phần của buồng giam, một phần của thiết kế vĩ đại, của ma thuật Disney ngọt ngào đã biến tất cả thành hiện thực. Những buồng giam của Tổ Chức được xây nên sao cho hiệu quả là tối ưu; như thể chiếc kính lúp lợi dụng ánh sáng mặt trời để thiêu cháy cái kiến bên vệ đường.

Tôi chẳng biết gì về những con người đã xây nên buồng giam Montauk. Tôi chẳng biết liệu họ đã quên điều đó, giả sử họ được phép quên đi. Montauk - và tôi sẽ gọi tên nó nhiều lần theo vô số cách khác nhau - là một thứ ôn dịch nếu phỏng theo định nghĩa rằng nó lan truyền tới tất cả những ai chạm phải nó, và nó chính là sự biểu hiện hoàn hảo của nguyên lý này. Họ là ai? Họ từng ở nơi đâu, và đã đến những đâu? Những bàn tay chữa lành bàn thờ thép cũng là những bàn tay tán dương bậc thánh thần; những con người vẽ nên một dãy các vật chứa và đặt tên cho chúng là SCP-231-2, SCP-231-3, dần đến tận số 7 với những cây bút dạ ghi chép ngòi nhọn và những nét gai góc ác độc của họ chính là những kẻ đã giam cầm các thiếu nữ này trong địa ngục mà chính tay họ xây nên.

Tôi đã lạc đề rồi. Những buồng giam, đúng thế.

Các buồng giam được nhắc đến trong tài liệu 231 hoạt động đúng theo những phương thức mà chúng được lệnh phơi bày ra. Chúng ta được biết đến những điều này:

- Tổ Chức cần hai nhóm nhân sự khác nhau luôn trong trạng thái sẵn sàng: Nhân sự thực hiện quy trình 110-Montauk, và nhân sự theo dõi quy trình ấy. Đó là chưa kể tất cả những nhân sự thường không được nhắc đến thường xuyên ở Tổ Chức - nhân sự phòng chống bạo loạn (ít nhất một đội cho mỗi SCP), nhân viên y tế trong quản thúc làm việc với các dị thể (đặc biệt quan trọng trong tình huống này), cảnh vệ và lính canh (bản thân cơ sở này là một trong những Điểm có cấp độ an ninh cao nhất trên toàn thế giới) cùng lao công và nhân viên căng tin. Bạn sẽ thắc mắc tại sao chúng ta phải coi trọng những điều này. Tôi xin hứa với bạn rằng đây là những điều thực sự hệ trọng.

- Tất cả nhân sự tiếp cận SCP-231 đều phải được vận chuyển qua nhiều con đường khác nhau và bằng nhiều phương tiện khác nhau. Điều này làm dấy lên câu hỏi: Nếu bạn bị bịt mắt, và tôi cũng bị bịt mắt, thì ai đang lái máy bay đây? Trên thế gian có những con người biết chính xác địa điểm của cơ sở giam cầm SCP-231, và tôi phải thừa nhận, chính tôi cũng chưa từng tận mắt trông thấy nó. Tôi biết nó ở đâu về mặt lý thuyết, dù tại đây tôi không có quyền được nói ra. Còn với bản thân con đường - thì. Nó không quan trọng ở đây. Nhiều người cũng nói rằng nó chẳng quan trọng chút nào.

- Những nhân sự trong buồng quan sát phải mặc quần áo bảo hộ phủ kín người, không chỉ che mặt mà còn giấu đi cả giọng nói của họ. Có những ám hiệu rằng tất cả nhân viên không thiết yếu cũng được yêu cầu phục trang như vậy.

- Những nhân sự được phép vào buồng quan sát đều phải ở yên trong phòng nghỉ được cung cấp riêng cho họ ngoài thời gian làm nhiệm vụ. Vậy nên trong suốt hai tháng trời, những con người này chỉ được trông thấy khuôn mặt của chính họ trên mảnh gương phòng tắm và vẻ mặt của cô bé trong buồng giam. Họ chỉ nghe được giọng nói của chính mình nơi phòng riêng và tiếng nói của cô bé qua loa truyền thanh ở buồng quan sát.

Đây là hai điểm chính cần được nói đến. Bạn có thể sẽ để ý rằng chúng ta không được nghe kể về bản thân những căn buồng. Trong các hồ sơ chúng ta vẫn thường thấy các tác giả thuộc những đội ngũ quản thúc chịu trách nhiệm cho các dị thể có trí khôn trình bày cả phương pháp quản thúc từ ngoài vào - các quy trình đặc biệt giữ SCP của họ ở yên trong trạng thái bị quản thúc - và cách thức quản thúc từ trong ra, như sự hỗ trợ tâm lý, sách vở, giải trí, sự điều tiết tương tác. Chúng ta chỉ được trao cho những chỉ dẫn mập mờ về việc quản thúc từ bên ngoài, và không gì hơn thế. Vậy nên, lựa chọn duy nhất của chúng ta là phỏng đoán - đúng là như vậy, trừ khi bạn đã được nghe lời kể từ những chứng nhân, hay sục sạo đào bới trái phép một chút ở điểm lưu trữ dữ liệu tại Quebec. Có lẽ bạn sẽ sửng sốt khi được thấy tận mắt những gì Tổ Chức nắm giữ ở các khu lưu trữ có cấp độ an ninh thấp này.

Buồng giam SCP-231 là một khối bê tông thô kệch khổng lồ xây giữa một sa mạc được giấu tên. Nó hoàn toàn nằm dưới lòng đất, nhưng đặc sắc bởi mạng lưới lối đi và ngõ cụt chằng chịt như mê cung dẫn đến điểm quản thúc thật sự; điều này không còn lạ lẫm gì đối với Tổ Chức ngày nay, tôi biết, nhưng lại rất tân tiến nếu xét trong hoàn cảnh cuối năm 1989 khi Điểm này được xây dựng. Có thể bạn đang thắc mắc làm thế nào họ xây dựng nên nơi này nhanh đến vậy, nhưng thực ra tồn tại trên mảnh đất này khi ấy vốn là một Điểm nhỏ cấp độ Safe, và sau đó nó được tu sửa để phù hợp với những thiết kế cấp độ Keter sau Sự cố Cornwall đầy tai tiếng. Vậy nên cấu trúc của điểm quản thúc SCP-231 còn kì dị hơn cả những gì kì dị nhất; có những tủ khóa bị lãng quên ở cuối những hành lang cụt, những căn phòng ngày qua ngày chờ đợi một cái tên, những ngọn đèn không bao giờ sáng. Hãy thử nghĩ đến một cái hang xem. Một cái hang dài lắt léo quanh co và chật hẹp đến bức người.

Ở trung tâm của tòa nhà là những buồng giam và khu ký túc.

Khối buồng giam là tổ hợp của bảy - đúng, bảy, nhưng chỉ sáu trong số chúng được sử dụng - buồng giam thực thể dạng người. Chúng được cấu tạo từ bê tông. Tôi không kết luận được điều gì khác rõ ràng từ những thông tin tôi có thể mó đến, và nếu như tính thêm cả những lời đồn thổi tôi nghe được, tôi cũng chỉ biết rằng mỗi buồng giam được đặt cạnh một phòng thẩm vấn để phục vụ cho quy trình Montauk. Cửa kính nhìn một chiều được đặt về bên phải mỗi buồng giam, tiếp đến là một buồng giam khác ở bên cạnh, và những căn phòng khác xung quanh nữa… Khi đội điều tra phụ trách SCP này theo dõi quy trình, họ đứng từ trên mặt đất nhìn xuống, nên hiểm họa chỉ cách họ một phiến kính dưới chân. Tôi đã được nghe đến những báo cáo mâu thuẫn nhau về việc có chấn song trên ô cửa sổ đó hay không. Một mặt, tôi tin là có; nhìn chung ở các Điểm lớn, mọi phòng quan sát phía trên mặt đất đều được gia cố. Ở Điểm-17 chẳng hạn, mọi cửa sổ đều có tấm chắn carbon bên ngoài lớp kính cường lực; nhưng ở Điểm-19, nhiều buồng quản thúc ngay trên mặt đất được gia cố bằng chấn song kim loại. Tuy nhiên, Điểm-19 đã tồn tại lâu hơn và có lịch sử gắn liền với thời kì Stalin, lại không thể không bị vạ lây bởi những cuộc giao tranh với chính phủ Liên Xô - nhưng tôi lại lạc đề rồi. Lịch sử của những công trình này lại là cả một câu chuyện khác.

Điều tối quan trọng cần lưu tâm ở những thiết lập này là sự đầu tư cho vấn đề tầm nhìn. Tầm nhìn - và những hệ quả của nó - là một phần cấu tạo nên cốt lõi của quy trình, là đặc tính thể hiện rằng Montauk là một nghi thức có bề dày lịch sử. Liệu bạn có thể theo dõi quy trình qua những chấn song? Khả năng cao là có, nhưng họ liệu có dám mạo hiểm? Một lần nữa với tôn chỉ tỉ mỉ và chính xác cố hữu trong những hành vi thờ cúng, tôi ngờ rằng không có chấn song nào chắn giữa những người quan sát và đối tượng của họ.

Trong phòng quan sát luôn có năm nhân sự. Không rõ vì sao hội đồng đứng sau quy trình quản thúc này lại quyết định là 5.

Vậy nên tôi muốn khắc họa nên một cảnh tượng cho bạn thấy, hỡi những độc giả thân yêu, làm việc với SCP-231 là như thế nào.

Bạn được đưa tới Điểm, và họ yêu cầu bạn thay sang bộ đồng phục mới trước khi tiếp tục đi, sau đó bạn được chào đón bởi một nhân viên hỗ trợ, người cũng mặc bộ đồ y như thế, cũng là người sẽ dẫn bạn qua một tiền đồn ngụy trang với bề ngoài xập xệ để đi vào lòng đất. Có thang máy để đi xuống ba tầng đầu tiên, nhưng từ đó trở đi bạn phải dựa vào chính đôi chân của mình. Bạn đi xuống sâu đến độ nào? Cuộc hành trình ấy mất bao lâu? Bạn nhìn thấy những ô tủ rỗng, những cánh cửa trống, những tàn dư của một Điểm không lưu giữ những gì vốn thuộc về nó, hay thuộc về phần còn lại của nhân loại này. Con đường để bạn trở thành một phần của nơi này thật là vô nghĩa lý. Bạn không được phổ biến trước rằng nên cư xử thế nào, hay công việc của bạn là gì; họ dẫn bạn tới phòng của mình rồi đưa cho bạn một cuốn sách hướng dẫn, và cuốn sách đó vạch ra công việc của bạn trong suốt hai tháng tiếp theo. Những căn phòng này không có mạng internet hay sóng radio, bởi việc kết nối đến những tần số ở địa phương có thể cho bạn một vài manh mối rằng bạn đang ở sa mạc nào; mặc dù bạn vẫn có một chiếc TV kết nối với một đầu DVD duy nhất. Nó không thể bắt sóng các kênh từ bên ngoài. Họ mang thức ăn đến cho bạn. Bạn có một danh sách những đĩa DVD và đầu sách mà mình có thể yêu cầu, và đó là tất cả những gì bạn được phép làm ngoài công việc. Bạn không có điện thoại cá nhân, nhưng bạn có một chiếc giường. Và bạn có một phòng tắm có gương. Và trước khi bạn rời đi vào mỗi sáng để đến quan sát cô bé, bạn có bộ đồng phục mình phải mặc. Và nó che mặt bạn, giấu đi giọng nói của bạn. Và tất cả những người khác cũng phải giấu đi gương mặt hay giọng nói. Vậy nên gương mặt và giọng nói duy nhất bạn được thấy trong hai tháng ở nơi ấy là của cô bé và chính bạn, và trong trạng thái ấy bạn được tận mục sở thị quy trình Montauk. Rất nhiều lần. Ngày này qua ngày khác. Và rồi bạn quay trở lại buồng giam - xin lỗi, phòng riêng - và chỉ ngồi đó mà thôi.

Sau khi hai tháng ấy trôi qua, bạn được quẳng lại về thế giới thực. Và khả năng cao nhất là trải nghiệm ấy đã thay đổi bạn. Khả năng cao bạn đã hoàn toàn khác biệt so với chính mình trước đây. Khả năng cao - và đây là điều cốt yếu, cái điều mà họ đã cố gắng xào xáo lanh tanh bành - bạn sẽ không bao giờ trở lại như xưa được nữa. Và đó chính là cái mà họ gọi là Quy trình Montauk.

Vấn đề không phải là chuyện gì xảy ra trong buồng giam. Vị thần ấy không quan tâm điều đó. Điều mà nó quan tâm là khi bạn rời đi, bạn đã không còn như trước, và đó là hồn cốt của quy trình này. Sự tra tấn không phải chỉ dành cho cô bé, mà còn dành cho bạn.

Hãy thử nghĩ xem bao nhiêu người đã phải sống qua những điều này. Hai tháng. Năm người cho mỗi cô bé. Vậy nên ngay từ những ngày đầu tiên, từ năm 1989, đã cần tới 30 người cho mỗi hai tháng ròng. 360 người mỗi năm rời đi với xích hữu thủ của thánh thần đặt trên vai họ. Trong chưa đến 3 năm, bản thể của 1000 người đã bị làm cho méo mó. Ý chí của một vị thần là thứ kiểm soát những kẻ thờ phụng, và đó là một điều nực cười, Montauk ấy, bởi vì về sau bạn sẽ làm gì? Bị điều khiển bởi nỗi sợ nghĩa là sao? Liệu bạn có thể tự chữa lành cho bản thân không? Liệu bạn có học được cách sống chung với nó? Bạn có kết liễu chính bản thân mình? Bạn có oằn mình chỉ mong được sống? Bạn phải làm sao để cứu rỗi bản thân khỏi quy trình Montauk; phải làm sao để giết một vị thần?

Tôi đã là một chuyên gia ngôn ngữ kí hiệu suốt cả cuộc đời mình. Tôi là một phù thủy theo lối cũ - tôi được dạy rất nhiều điều về những vị thần, và tôi từng trông thấy biết bao nhiêu trong số họ dưới vô vàn hình dáng. Năm 1967, khi tôi đang mang thai đứa con đầu lòng và duy nhất, tôi được Tổ Chức liên lạc với mục đích thuê tôi giải mã Kinh Erikesh. Đây không phải lần đầu tôi được thuê làm cố vấn cho họ hay cho những đơn vị có liên quan, nên tôi đã chấp nhận công việc này và phiên dịch bộ kinh bằng toàn bộ năng lực mình có.

Bản thân bộ kinh lại là cả một câu chuyện khác. Bộ mã kí hiệu của nó cổ xưa và kì lạ - tôi nhớ rằng công việc ấy hết sức khó khăn. Công việc của tôi hoàn thành không lâu sau khi con trai tôi được sinh ra. Giá như tôi được biết trước bản dịch của mình rồi sẽ dẫn đến kết cục gì, tôi đã cân nhắc lại liệu mình có nên nhận công trình đó. Giá như tôi được biết trước rằng bản dịch ấy sẽ đến tay người bạn thân thuở nhỏ của con trai tôi - giá như tôi được biết trước những chuyện sẽ xảy ra với nó - giá như tôi được biết trước. Giá như tôi đã không bỏ rơi nó khi nó mới chừng ấy tuổi. Giá như tôi đã mang nó theo khi tôi phải trốn chạy. Giá như cha nó vẫn còn sống. Giá như tôi đã giết nó ngay khi tôi phát hiện ra năng lực của nó, thay vì dạy dỗ nó không bao giờ được manh động kể cả khi hiểm họa chắn trước mặt mình. Khi ấy điều gì sẽ khác đi?

Bạn đã thấy cách Montauk tiêm nhiễm tôi chưa, hỡi bạn đọc thân yêu? Bạn đã hiểu cách mà quy trình này vận hành rồi chứ? Tất cả những con người va vào nó để rồi bị biến đổi… và thử hỏi có bao nhiêu người khác đã bị cuốn theo vòng xoáy đổi thay khi ngắm nhìn những người họ yêu thương nhất méo mó dần? Thử hỏi có bao nhiêu con người đã phải vùng dậy giữa đêm đen, với lòng kinh sợ đem tiếp tế cho một vị thần đói khát?

Nỗi kinh hãi lớn nhất của tôi về những nghi thức liên quan tới SCP-231 chính là điều đó: rằng những đứa trẻ không phải là chủ thể, và chưa bao giờ là vậy. Rằng những gông xiềng sẽ đứt gãy ngay khi vị xích thần mong muốn - khi đã có đủ những con người sợ hãi.

- Quý bà Agora, Chuyên gia ngôn ngữ ký hiệu, Dịch giả, Kẻ sùng tín đa thần. 2/28/2004.


Lời bình Sơ lược về Chiến dịch Ichabod Từ Kẻ Biết Bao Người Muốn Tiêu Diệt

"Và tất cả luôn hỏi ta, khi ta cho họ thấy những số liệu đó [99% Lục Thể sẽ tiến triển tới Giai đoạn 4 vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời], 'Vậy những kẻ khác thì sao?' hay '1% còn lại thì thế nào?' và đó là vấn đề chính mà ta sẽ đi vào giải quyết ngay bây giờ. Chiến dịch Ichabod là một thứ khó nuốt đối với rất nhiều người nghiên cứu Học thuyết Hume trong bí mật.

Một điều quan trọng cần lưu ý khi giảng giải về những điều này là trái với suy nghĩ của số đông, các Lục Thể thường không bị sát hại ở tuổi vị thành niên cho tới gần đây. Trong một khoảng thời gian dài tiêu chí thường được áp dụng vẫn là chỉ tìm kiếm các Lục Thể khi chúng gây ra sự việc nào đó thu hút sự chú ý đến bản thân mình đủ để phải cân nhắc việc tiêu diệt chúng; sự mất tích đột ngột của một nhân vật quan trọng nào đó, kiểu như vậy, hay một chuỗi án mạng không có nhiều mối quan hệ nhân quả, và quá trình tiêu diệt thường được hoàn thành thông qua một chiến dịch lộn xộn và mất trật tự thường được miêu tả như một 'cuộc đi săn phù thủy'. Phải cho tới khi học thuyết Hume được phát triển và tiếp theo đó các Thang đo Kant sơ khởi được phát minh vào cuối những năm 1950 việc xác định và đo lường thiên hướng sở hữu sức mạnh của một số cá nhân mới khả thi, và phải cho tới khi Liên minh Huyền bí Toàn cầu khởi động Chiến dịch Tiễu trừ Ichabod vào đầu những năm 1970 việc tìm kiếm và diệt chủng những cá nhân này ngay khi chúng chào đời mới trở thành thông lệ.

Chiến dịch Ichabod là một hệ quả tương ứng của sự phát triển các thiết bị Kant với tầm đo rộng và độ chính xác cao hơn. Ta không cho rằng lỗi thuộc về bộ máy điều hành ấy vì đã chọn hướng đi này, nhất là khi đây có thể coi là một giải pháp quá hoàn hảo cho một vấn đề nguy nan như thế. Nếu ngươi có thể ngăn chặn một Lục Thể tiến triển tới giai đoạn 4, ngươi cũng có thể ngăn chặn Lục Thể ấy bước vào giai đoạn 2 cùng tất cả những thử nghiệm liều lĩnh kèm theo đó; tại sao ngươi lại không làm thế chứ? Đối với người ngoài điều đó nghe chẳng khác nào diệt chủng, nhưng thực tế lại rất khác đằng sau bức màn bí mật, khi ngươi có thể thấy rõ những hiểm họa mà những kẻ như vậy có thể gây ra (từ khóa có thể).

Chính kiểu tư duy này là điều đã kiềm chế Tổ Chức khỏi việc phản ứng lại ngay lập tức và đặt dấu chấm hết cho chiến dịch này. Chúng ta không có cùng suy nghĩ về vấn đề đó, và đồng thời chúng ta cũng không bỏ qua nó. Sẽ là giả dối nếu nói rằng chúng ta chưa bao giờ tiến hành các nhiệm vụ đơn lẻ để tiêu diệt một số cá nhân vị thành niên, nhưng chúng ta chưa từng khởi động một chiến dịch với tầm cỡ và lực lượng như Ichabod, và chúng ta cũng không phản đối nó, vì vấn đề với Ichabod là nó hiệu quả. Đạo đức? Luân lý? Cả hai đều nằm trong mắt người nhìn nhận chúng, nhưng những thiệt hại gây ra bởi Lục Thể thuộc mọi giai đoạn và mọi cấp độ năng lực giảm nhanh đến chóng mặt kể từ những năm 1970 trở đi, và chúng ta hành xử như thể chẳng biết gì về điều đó. Vẫn luôn có những người thường nói tại con mẹ nó làm sao các người không ngăn chuyện này lại, bởi nếu mục tiêu không phải là Lục Thể thì các người hẳn đã dùng mọi nguồn lực mình có để ngăn chặn chiến dịch ấy trước khi nó đi vào hoạt động rồi, và điều đó đúng, nhưng vì những cuộc tấn công và sự thay đổi giai đoạn sức mạnh của Lục Thể trước Ichabod gây ra quá nhiều thiệt hại về tính mạng và của cải đối với thế giới bên ngoài nên chiến dịch ấy mới bị lờ đi.

Điều đó giống như thế này: Tại sao những nhà hoạt động vì quyền động vật lại không lên tiếng trước việc người ta dùng bẫy chuột trong nhà? Bởi chuột đã luôn là sinh vật phá hoại suốt hàng thế kỉ nay. Chúng đã gây ra vô số cái chết vì dịch bệnh và hiểm họa cho những công trình. Chính những con người này lại phản đối việc chúng bị dùng làm vật thí nghiệm bởi những tiêu chí dĩ nhiên là trái đạo đức trong việc đó, nhưng họ lại không ý kiến gì trước việc chúng bị hại chết tàn nhẫn bằng cách làm ngạt thở. Chúng ta còn chẳng biết liệu những con chuột mà họ đang giết hại có xứng đáng để phải bị giết hay không, hay liệu chúng có phải những em bé chuột không, và chúng ta chẳng quan tâm, bởi nếu như ta để hàng đàn hàng lũ chuột hoành hành trong nhà ta thì sẽ không còn lại gì ngoài thảm họa. Cũng tương tự như thế đối với Lục Thể; người ta lên tiếng chống đối lại sự quản thúc chúng, hay việc sử dụng chúng trong nghiên cứu về năng lực của tâm trí chúng và học thuyết Hume, trong những cuộc khảo sát thang đo Kant, nhưng trên hết người ta phản đối sự biến đổi cơ thể chúng để phục vụ [DỮ LIỆU BỊ XÓA], một thông lệ vẫn còn cho tới ngày nay.

Nhưng chưa từng có ai lên tiếng chống lại Ichabod. Và vì thế, Ichabod chưa bao giờ dừng lại. Chiến dịch ấy sẽ tiến đến kỉ niệm 30 năm ngày thành lập vào năm nay. Một đặc vụ Ichabod trung bình có khoảng 50-150 chiến công lận lưng trong toàn sự nghiệp; một đội tiến công của Ichabod có thể đạt đến bất kì con số nào trong khoảng 300-500. Thực tế cho thấy quản thúc mọi Lục Thể là bất khả thi bởi Lục Thể tồn tại phổ biến hơn ta nghĩ.

Câu hỏi tiếp theo thường xuyên được nêu ra là vậy còn SCP-239 thì sao? Điều gì đã làm con bé đặc biệt đến vậy? Và câu trả lời là con bé ở đây để phục vụ những thử nghiệm. Con bé ở đây để làm cho thế giới tốt đẹp hơn, nhưng nó không đặc biệt. Tuổi thọ trung bình của một Lục Thể là 19, do chúng thường bắt đầu chuyển sang giai đoạn 4 vào khoảng 17 tuổi. 239 sinh năm 2003 và đã ở trong giai đoạn 3 được 4 năm tính tới thời điểm này. Có thể con bé sẽ là một trường hợp trong số 1%, một điển hình hoàn hảo cho cách mà việc quản thúc và nuôi lớn những đứa trẻ này trong môi trường với những ranh giới và kì vọng rõ ràng được đặt ra cho chúng đồng thời cho phép chúng có một môi trường an toàn để khám phá năng lực của mình có ảnh hưởng sâu sắc thế nào đến quá trình trưởng thành của chúng. Có thể con bé sẽ chuyển sang giai đoạn 4 và hủy diệt tất cả chúng ta.

Nhưng cho tới nay, những số liệu rất đáng báo động: Đỉnh điểm ở những năm 80, Chiến dịch Ichabod của GOC đã tiêu diệu gần 75% trong số toàn bộ Lục Thể, nhưng những điều lệ đã bị thắt chặt kể từ đó. Tuổi thọ của một Lục Thể 'trong tự nhiên', tức là những Lục Thể không bị ảnh hưởng, theo dõi hay được bảo vệ bởi một Thế lực Đáng Lưu tâm, là khoảng 19; trùng với độ tuổi những cá nhân này tự đào hố chôn mình bằng cách tiến triển tới giai đoạn phát triển cuối cùng.

Vào những năm 1980, tuổi thọ trung bình là 8 tuổi, bởi đây là độ tuổi mà Ichabod thường tìm ra và giết chúng. Còn chúng ta không làm gì cả."

- [DỮ LIỆU BỊ XÓA], 8 tháng Hai, 2010


Chó săn5

Hồi đó là khoảng giữa những năm 1980, và anh vừa mới gột sạch máu vấy lên từ nhiệm vụ vừa xong khỏi tay mình, dựng mình đứng vững, đăng ký thêm một nhiệm vụ khác để khỏi phải về nhà, và anh gọi điện cho Lilly như anh vẫn thường làm và có điều gì đó khác lạ trong cách lần này cô gọi anh là đồ dối trá đã trở thành giọt nước tràn ly khiến anh vụn vỡ sau cả triệu lần như thế. Có thể là do stress, có thể là vì anh đã trải qua sáu tháng liền chỉ toàn những nhiệm vụ, có thể là bởi anh thiếu ngủ hay tại cách bàn tay anh run run, nhưng anh là Đặc vụ Ukulele đứng thẳng trong bốt điện thoại ở trạm xe buýt và anh đã bắt đầu bật khóc khi điện thoại vẫn còn trên tay, trong khi cô cứ liên hồi chì chiết anh chỉ vì một vài lỗi sai vớ vẩn trên một tấm séc anh gửi về nhà. Anh ngu si, anh béo bệu, và chẳng ai sẽ yêu anh như cô đã yêu anh, anh may mắn quá trời quá đất vì có được cô, anh vĩnh viễn mắc nợ cô tất cả những điều cô đã làm vì anh, và trên hết anh là đồ dối trá. Ký ức của anh là bậy bạ, bởi trong đó có những điều cô chưa từng nhắc tới và những chuyện cô chưa từng làm ra. Sau chưa đến một tuần nữa cuộc gọi này sẽ không còn tồn tại, bởi Francis đã điên - đúng - Francis đang dần mất đi khả năng kiểm soát năng lực của mình, và đó chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi người khác phát hiện ra, và anh tốt nhất nên về nhà để biến khỏi những nơi họ có thể tìm thấy anh, anh tốt nhất nên về nhà nơi cô có thể trông chừng anh, anh đang chết dần chết mòn, anh sắp chết, và chỉ cô mới có thể cứu sống anh.

Ấy là một trong những giây phút mà anh sẽ trải qua thêm nhiều lần nữa ở Tổ Chức, trong một cuộc đời khác mà khi ấy vẫn còn ngoài tầm tay với của anh - một đoạn hồi tưởng ngắn phát đi phát lại trong đầu, một mũi khâu lỗi lọt giữa một đường may đều tăm tắp. Anh gác máy điện thoại và run rẩy và sụt sịt và nghĩ đến chuyện mình đang mất kiểm soát dần dần và tự hỏi anh còn bao nhiêu thời gian trước khi bị chính những chiến hữu phát giác và giết chết. Anh tự hỏi liệu ngày ấy có mau đến, và liệu họ có giết chết cả Lilly, và có mấy phần cuộc đời anh chỉ là do anh tự tạo ra qua những phen đổi thay hiện thực nhỏ nhoi trong vô thức. Anh tự vấn liệu có phải ngay chính chuyện này cũng là do mình tự vẽ nên. Anh trăn trở liệu có phải mình sắp phát điên, hay có lẽ nào mình đã đi quá xa đến độ không thể quay trở về cái gọi là "bình thường" được nữa. Anh không thể ngăn mình bật khóc.

Thần trí anh thế là suy sụp hoàn toàn. Anh ngồi trên sàn bốt điện thoại nơi một bến xe buýt đường dài và sụt sịt khóc nửa vì hoảng loạn nửa vì đau xót, nhưng đột nhiên thông báo chiếc xe buýt tiếp theo đang đến từ loa phát thanh vọng lên và anh lại vụt biến thành một con người khác.

Vạn vật đều vỡ vụn. Hơi thở anh dồn dập và những xúc cảm trong anh mờ đi như sương cháy mỗi sớm bình minh. Thời gian đang dần cạn và vạn vật đang vụn vỡ, và anh cũng chẳng rõ điều đang đổi dời mà mình vừa cảm giác được là gì, và đâu là nơi anh cần đặt dấu chấm hết hay phải bắt đầu, hay liệu anh có khả năng làm bất cứ điều nào trong cả hai điều ấy. Cô đã từng rất khác. Cô đã từng dịu dàng.

Có điều gì đó đang thay đổi nơi cô, những suy nghĩ của Francis nảy lên từ sâu trong một góc tối tâm hồn mà chính anh cũng không muốn sờ mó đến. Cô đang chuyển mình - và chẳng bao lâu nữa sẽ không còn gì khác biệt giữa cô và những thứ mà anh được thuê để tiễu trừ. Chẳng phải điều đó tệ hại lắm sao? Chẳng phải đó là điều thảm thương đến trời tru đất diệt sao?

Hay có lẽ chính anh mới là người đang thay đổi.

Hay có lẽ chính anh mới là kẻ đang dần biến thành một con quái vật.

Francis ngừng rơi lệ, đường đột đến tưởng như đau điếng. Đặc vụ Ukulele vùng dậy. Ấy là một khoảnh khắc mà mọi dòng trí nhớ bao lấy nó đã bị não bộ anh chặn đứng. Anh bước ra khỏi bốt điện thoại bơ phờ hơn hết thảy, và lên xe buýt thẳng tiến tới một hang ổ Lục Thể ở Huston, và đôi phần trong anh rả rích khóc than mày thật dị biệt, mày đang méo mó dần đi, và chuyện gì đó tệ hại sắp xảy ra rồi đấy.


ad undas

30 tháng Bảy, 1989, 1300 giờ, Cứ điểm Giấu tên ở Newcastle, Anh

'Coda' - như cách con người này được gọi tên - nghiêng mình về phía màn hình, vô thức rung đùi khi đương chăm chú.

Con người này quả là một vị Coda tuổi trẻ tài cao. Chỉ huy điều phối lực lượng và Chủ nhiệm hậu cần là vị trí chẳng bao giờ bị coi khinh ở GOC; với tư cách cánh tay phải của D.C. al Fine, đây quả thực là chức danh đáng khát khao kể cả đối với một nhân sự giàu thâm niên. Nhưng con người này, vị Coda này, rất thông minh. Cực kỳ thông minh. Ứng viên tốt nhất có thể được tìm thấy trong một khoảng thời gian gấp gáp - cũng có thể là người tốt nhất họ từng tìm ra, chấm hết. Chẳng mấy dạn người, nhưng sở hữu khả năng tập trung cao độ tựa một tia laser hướng thẳng đến mục tiêu, và sức bền như thể một con bò tót. Khả năng tập trung và sức bền không phải những điểm mạnh của vị Coda trước đây. Và cái kết của cuộc đời anh ta thì quả thực tan tác đến rợn người.

Vị Coda mới không muốn nghĩ về điều đó. Họ ở đây là để làm việc - nhưng công việc ấy dạo gần đây không khoan dung độ lượng với con người này cho lắm. Con người hiện đang cúi gằm trước bàn điều khiển máy tính trải suốt chiều dài căn phòng ấy thấy rõ sức nặng của nhiệm vụ ở Cornwall qua tấm lưng nhức mỏi, bờ vai căng cứng cùng đôi bọng mắt của mình. Họ đã thức trắng gần ba mươi hai tiếng liền. Nhưng sắp xong rồi, con người ấy tự nhủ thầm giữa ánh đèn huỳnh quang bức bối của phòng chỉ huy, với đôi tai nghe đương rào rào phát những tín hiệu radio chưa xử lý nhòe nhoẹt và hỗn độn đến độ họ biết tỏng rằng những âm thanh lùng bùng này sẽ còn mắc kẹt trong tai họ hàng tiếng đồng hồ từ ấy về sau; Bây giờ chắc chắn phải sắp xong rồi.

Chín tháng trời làm việc vừa rồi của vị Coda ấy hầu như đã trôi qua thế này:

Sau một cuộc tầm soát Hume định kỳ, những đặc vụ trong đội tuần tra đã báo cáo lại với con người này những gì họ tìm thấy. Coda đã ra lệnh cho họ điều tra về một bức xạ nọ (khi ấy nó vẫn còn yếu - chỉ thỉnh thoảng lại lóe lên). Đội đặc vụ nọ không quay trở lại. Họ cử thêm người đi. Những con người ấy cũng chẳng trở về. Họ điều phối thêm nhiều đội nữa tới điều tra, những đội này theo dấu tín hiệu ấy tới một ngôi nhà duy nhất cùng hồ nước bên cạnh nó, và rồi đột nhiên cũng không về nữa. Vị Coda này đành chốt hạ một nước đi liều lĩnh khi quyết định điều động tới gần 200 đặc vụ của chiến dịch Ichabod - xấp xỉ một nửa quân số toàn đơn vị - tới thị trấn North Access rải rác trong vòng chín tháng trở lại đây. Mối hiểm họa vẫn luôn leo thang từng ngày. Thực tại bên trong thị trấn nhìn chung ngày càng trở nên bất ổn; cụ thể là tình thế ở cửa hàng hoa nơi những đặc vụ đã đến mà chẳng trở về thật đáng báo động, và đó mới chỉ là nói giảm nói tránh.

Ba mươi phút làm việc vừa rồi của vị Coda ấy gần như đã trôi qua thế này:

Họ gửi đi một đội 30 người ngay khi chỉ số Hume giảm xuống, đột ngột mà chẳng có dấu hiệu gì báo trước. Đó là một sơ hở mà con người này chẳng hề ngờ đến và Coda thực sự đã gào thét ra lệnh toàn đội ôm bom xông lên, vì ơn giời nếu toàn đội ra tay suôn sẻ thì chỉ trong tầm nửa phút thôi mọi chuyện sẽ đâu ra đấy. Các chỉ huy đội mà Coda đang trực tiếp trao đổi thông tin báo cáo lại rằng cơn mưa đã gây ra lũ quét, và con người này giục họ cố gắng lái xe xuyên qua dòng nước lũ. Những đội đặc vụ nói rằng điều đó bất khả thi.

Nên Coda lệnh cho họ đi bộ.

Sẽ có những người nghi hoặc nguyên tắc xử trí của Coda trong tình huống ấy. Những đội đặc vụ liệu có thể rút lui trong nước lũ đủ nhanh để thoát khỏi vụ nổ đang chực chờ, hay bất cứ sự phản công nào xuất phát từ hang ổ Lục Thể bên trong căn nhà kia? Điều đó quả thực khó nói, nhưng dù sao một trong những lý do Coda được lựa chọn vào vị trí ấy là sự liều lĩnh của con người này. Nên đây là một canh bạc mà con người này đã quyết chí sát phạt ngay trong đêm ấy.

Nước đổ xuống mỗi lúc một ào ạt thêm. Những quả bom: 25 pounds6 mỗi quả, 6 quả như thế, gắn thêm một thiết bị neo hằng thực khẩn cấp. Dạng thử nghiệm. Mục tiêu là chọc thủng trường Hume cao ở rìa ngoài và kích nổ tung căn nhà. Những quả bom này rõ ràng chẳng thuộc loại tiện dùng, nên các đặc vụ phải cuống quýt lắp đặt những dây nhợ và pin, và trong vòng nửa tiếng mực nước đã dâng từ ngang gối lên ngang eo và Coda khó mà nghe được tiếng nói của những chỉ huy giữa màn mưa triền miên không dứt.

Và đó là khi vị Coda mới ấy mắc phải lỗi lầm đầu tiên: con người này do dự.

Con người ấy đã có thể đưa đội tiến công thoát khỏi nơi đó trong vòng mười phút ngay khi họ cần. Con người ấy đã có thể làm cả ngàn điều khác đi nếu họ được biết trước chuyện gì sẽ xảy ra ngay sau đó. Người ta có thể bơi trong nước, con người này quan niệm như vậy. Nước lũ không phải là vấn đề, con người ấy giả định như thế. Nước đã dâng đến ngực họ rồi, con người này được nghe thông tin. Nhưng chuyện đó sẽ không thành vấn đề. Chuyện đó sẽ không thành vấn đề. Chuyện đó không thành vấn đề cho tới khi nước bắt đầu sôi lên, đột ngột - ngay khi những quả bom được cài vào đúng vị trí và bị tạt tới tấp bởi những con sóng mới dâng trào - làn nước bắt đầu nóng giẫy, và mất một hồi lâu Coda mới hiểu đây không phải chuyện chơi. Những chỉ huy báo cáo rằng nước ấm khác thường. Rồi họ lại bảo nước đang nóng lên thêm nữa, hệt như trong phòng xông hơi, và rồi họ chẳng nói gì nhiều nữa vì chuyện này chẳng vui vẻ gì, và chỉ còn lại mình Coda rối như tơ vò, cố gắng tìm kiếm một câu trả lời nhưng đột nhiên chỉ thấy mịt mù trống rỗng.

Bom không nổ. Những khí cụ này không được thiết kế để hoạt động khi bị nhấn chìm trong nước. Khôi hài quá rồi chăng? Thật quá đỗi trùng hợp, thật độc địa đến dã man thay khi mà dĩ nhiên những khí cụ ấy không được làm ra để chống chịu một trận lũ sục sôi theo đúng nghĩa đen.

Vậy nên Coda vẫn dỏng tai lắng nghe qua bộ đàm trong khi cách nơi ấy bảy giờ đi đường, dòng nước lũ bao phủ thị trấn North Access, Cornwall sôi bùng lên. Con người ấy nhảy loạn xạ từ hết bàn phím nọ sang bàn phím kia và dần dà suốt nửa tiếng sau mọi đặc vụ mà con người này còn bắt liên lạc được đều lần lượt mất kết nối, từng người từng người một. Và rồi những đặc vụ ở điểm đóng quân cũng mất kết nối theo, một người lại một người. Và rồi tất cả những gì con người này còn nghe được qua mọi thiết bị liên lạc chỉ có tiếng mưa dồn dập chẳng bao giờ dứt.

Những bản ghi âm vẫn còn đâu đó. Coda chưa bao giờ nghe lại chúng, nhưng con người ấy thừa biết ẩn giấu ở một nơi nào đó sâu trong cơ sở dữ liệu chật hẹp của GOC, chúng vẫn còn tồn tại. Chúng bao gồm những nội dung mà con người này tưởng tượng là khoảng 2 tiếng đồng hồ toàn những âm thanh của sự chết chóc, tiếp nối bởi 48 tiếng đồng hồ Coda triền miên gặng hỏi để tìm kiếm dù chỉ một tín hiệu phản hồi. Lại có cả đôi lần con người ấy mở rộng giới hạn tìm kiếm ra xa khỏi những nơi mình kì vọng và bao lấy những thị trấn xung quanh, vươn đến cả những trạm thu phát sóng đường dài

(đồng thời vô tình để lọt ra ngoài một tín hiệu chiều về được chuyển hướng từ những thiết bị sống dở chết dở bị bỏ lại ở north access, để rồi nó được thu nhận không chỉ một, mà đến hai lần bởi một cứ điểm bí mật ở London)

và sự mong mỏi đã được đáp lời. Và lời hồi đáp ấy luôn trông rỗng.

Và chẳng có chuyện gì thêm nữa cho đến khi những đội ngũ của Tổ Chức tới nơi, và mớ lộn xộn thực sự được khơi mào.


Hạt Dẻ

Hạt Dẻ chưa bao giờ thấy đau đớn thế.

Em đã biết ngay từ khi nước trong chuồng ngựa bắt đầu dềnh lên rằng mọi chuyện đang không diễn tiến như cách mà nó nên thế. CON NGƯỜI mọi khi vẫn thường giữ chuồng em sạch sẽ, và mỗi lúc nó không như vậy, lại buộc dây cương của em vào cái cột ngoài trời để lấy chỗ cho Người dọn dẹp. Và chuồng ngựa cũng chưa ngập lụt như thế bao giờ. Nước đã lên quá móng guốc em từ trước khi Người hối hả chạy tới - đập đánh rầm những cánh cửa chuồng cho ánh sáng chiếu vào em và năm con ngựa khác, Người đã thấp thỏm bất an suốt một tiếng nước lên không dứt - thở hổn hển, người ướt đẫm, và vội vàng gạt phăng những thanh chốt bên ngoài từng ô chuồng ngựa.

Nối đuôi nhau, đàn ngựa chạy. Bão Giông phóng vụt ra ngoài mà không khỏi hoang mang, những móng guốc nện như sấm xuống mười lăm phân nước lũ trên sàn rồi tiến vào cái thế giới đen kịt nhầy nhụa sâu tít phía sau ngọn đèn chuồng leo lét. Rio đã hóa hồ đồ vì hoảng loạn khi cửa ô chuồng con bé mở ra, lồng lên giãy giụa trước mặt CON NGƯỜI, đôi mắt trợn trừng - con bé va phải cửa chuồng khi mất phương hướng trên đường chạy ra, suýt nữa ngã dập mình xuống đám cỏ bị nước lũ nhấn chìm trước khi lấy lại được thăng bằng và chạy biến vào màn đêm. Vực Thẳm đã mở được cửa ô chuồng trước cả khi CON NGƯỜI chạm tay đến then cài, bởi thằng bé vốn dĩ đã bị dòng nước xối vào chuồng ngựa từ một cái hốc trên tấm gỗ sau lưng nó dọa cho chết khiếp, và phi như tên bắn với độ chính xác của một con ngựa đua khỏi ngôi chuồng đang lung lay, và rồi chỉ còn lại mỗi Hạt Dẻ và CON NGƯỜI, và CON NGƯỜI có một cái yên cương.

Em là con ngựa tốt và thông minh nhất, đồng thời có lẽ là dũng cảm nhất của Người. Đúng chín tháng trước cô vợ của Người - cô thủ thư của thị trấn - đã biến mất vào hư vô, và Hạt Dẻ là nơi để Người giải tỏa nỗi sầu bi. Em bị dọa sợ, nhưng em không như những con ngựa khác. Chưa bao giờ giống chúng. Và chiếc xe ô tô của Người đã chết máy và cả thị trấn đang bị nhấn chìm, và nếu như cả hai không sống sót chạy thoát khỏi nơi này thì thôi xong.

Mực nước bên ngoài chuồng ngựa rõ ràng còn sâu hơn thế. Nước đã lên tới đầu gối em khi em bước ra, lạnh lẽo và dữ dội và bẩn thỉu. Nhìn xuyên qua những cơn gió lốc, em thấy hết ô tô đến nhà cửa đều đang chìm sâu trong nước lũ, sâu hơn tất thảy những gì bị nhấn chìm mà em từng thấy trước đây, và làn nước dường như chẳng ùa ra từ bất kì đâu ngoại trừ cái hồ nước nọ. Em ngoảnh mặt nhìn lên cùng lúc với CON NGƯỜI. Cả hai sẽ cùng nhau bỏ chạy. Em chưa bao giờ nghĩ đến cái ngày mà cả hai phải bỏ chạy cùng nhau.

Những cơ bắp em giậm xuyên qua dòng nước lũ rối rít chẳng theo nhịp điệu nào, hết trượt chân lại đến múa loạn lên, hết bám được vào mặt đất rồi lại mất thăng bằng, hết sa phải những ổ gà lại đến bị những hàng rào chìm trong nước lũ sượt qua mạng sườn làm em chao đảo, nhưng em còn nhớ rõ khi ấy cả hai đang làm gì: CHẠY, CHẠY, cả hai đang CHẠY thật xa khỏi cái linh cảm kì lạ về hồ nước ấy vốn đã dấy lên trong em hàng tháng trời nay, CHẠY khỏi người phụ nữ mất tích nọ và CHẠY khỏi tạo vật kì lạ với cặp sừng hươu mà chính mắt em đã chứng kiến nó cướp người phụ nữ kia đi chín tháng trước đây. Hiển nhiên CON NGƯỜI đang dốc sức nhìn xuyên qua cơn bão, còn em chỉ có những bàn chân trần dẫn lối cho em hay đâu là làn nước còn đâu thì không; khi bàn chân em va phải vỉa hè của con đường dẫn vào thị trấn, em vươn mình về phía trước và chạy vụt ra xa khỏi những con sóng trên đường dù vẫn còn phải vật vã dưới bóng tối và màn mưa, thân mình nổi da gà và đau điếng. Em và CON NGƯỜI đang CHẠY, và dù em chẳng biết mình đang đi đến đâu, em vẫn tin rằng đó là điều mà CON NGƯỜI biết rõ.

Nước dâng lên nhanh, nhưng Hạt Dẻ lại càng nhanh hơn. Hàng cây hai bên con dường dẫn vào thị trấn dão ra như những nanh vuốt sượt qua muốn vồ lấy em. CON NGƯỜI đã chẳng kịp mang theo dây cương, nhưng lúc nãy điều đó không thành vấn đề và bây giờ vẫn vậy; Người quàng đôi cánh tay qua cổ em và bám lấy, trong khi vẫn chật vật nhìn ngó xem em đang đưa Người tới đâu. Những cái bóng phía xa xa kia trông hao hao lối vào thị trấn. Trông chúng hệt như thế giới bên ngoài, và rồi-

-Chúng lại trông chẳng khác nào rìa bên kia thị trấn này.

Hạt Dẻ giậm mạnh chân xuống làn nước nhưng ngay tức khắc ré lên vì sức nóng. Em không thể nhìn thấy gì, nhưng CON NGƯỜI thì có, và thứ mà Người nhìn thấy là một hồ nước mênh mang vô tận, là hàng mét nước ngập sôi sùng sục mà cả hai chẳng thể nhìn thấy bãi bờ vì cơn bão đã làm trời tối đen như mực. Người kéo lấy phía sau bờm em và giục em quay ngược lại, choáng váng, loạng choạng - cả hai đã đến nơi chưa? Thế giới ngoài kia biến mất rồi à? Có phải cả hai thực sự vừa quay trở lại-

(cả thế giới đã chìm trong tiếng gào thét của đám đông người sống ở mé bên kia thị trấn)

-cái ao nước lũ sôi sùng sục kia?

Hạt Dẻ tuân theo chỉ dẫn của Người, nhưng những bước chân em đang liên hồi tập tễnh. Cả hai không đi được quá lâu theo lối cũ dù cho có vội vã quay ngược lại theo con đường mòn chưa bị nhấn chìm nhưng đang mờ dần đi - con đường ấy dẫn đến lối ra, hoặc là lối vào - và rồi cả hai quay trở lại sát bên chuồng ngựa - Người có thể thấy nó đằng sau những tán cây khi ánh chớp lóe lên.

Nước vẫn đang dâng lên. Người chẳng thấy gì. Cả hai đang ở lối vào thị trấn và nước đã đổ xuống con đường ấy từ phía bên kia vùng đất, ngay lúc ấy, sôi sùng sục và ào ào tiếng sóng khiến Người đành phải ép Hạt Dẻ nhảy nhót loạn xạ trên vài mét đường bấp bênh tối mù không khác nào một con thú bị tra tấn trong rạp xiếc, bị dần nhừ tử bởi những con sóng đỏ ngầu, bị xoay vần như một con rối giữa bão giông. Không gian cứ hẹp dần hẹp dần đi và cơn bão cứ thêm cuồng nộ, những giọt mưa tan thành hơi nước trước khi rơi xuống mặt hồ như thể chúng là một loại nham thạch tồn tại trái với mọi quy luật tự nhiên - đáng lẽ ra làn nước lũ ấy phải biến thành hơi cả rồi chứ? Tại sao mặt nước vẫn cứ trải dài ra xa mãi? Cả hai đã bị hành hình ở cái nơi cô tịch này bao lâu, và đã nhảy nhót quay cuồng biết bao lâu? Hàng giây? Hàng phút? Hàng giờ?

(Hạt Dẻ chưa bao giờ thấy đau đớn thế)

Em ngã xuống. Người ngã xuống. Như những con ếch trong nồi nước trên bếp lửa, khoảng thời gian ấy quá dai dẳng để có thể coi là khoan dung.


80 Tiếng Đồng Hồ Ấy

Bác sĩ không đến, và Francis bâng khuâng không hiểu tại sao - anh đâu nghe được tiếng dòng nước lũ dâng lên từ dưới hồ đánh vỡ tan tành những cửa sổ tiệm hoa giữa một biển máu thịt sục sôi trên mặt đất - nhưng chuyện đó quả thực chẳng chút gì quan trọng, bởi chỉ chưa đầy một tiếng đồng hồ sau đứa bé đã chào đời và bỗng dưng trong căn phòng ấy lại có ba người: Lilly, Francis và đứa bé gái sơ sinh.

Francis chẳng hay liệu lòng mình có còn đọng lại chút yêu thương nào để cho đi, nhưng đứa nhỏ anh ôm nặng tay hơn anh nghĩ, ấm áp hơn, sống động và đáng yêu hơn bất cứ thứ gì anh từng thấy trên cõi đời này. Anh bọc đứa nhỏ trong quần áo vải lanh mềm cất ở đâu đó phía hành lang và ẵm con trên tay trong lúc Lilly dùng thuốc. Khi anh khẽ chạm vào mu bàn tay đứa nhỏ, những ngón tay xinh xinh của nó giữ rịt lấy tay anh, và đột nhiên Francis thấy mình chưa bao giờ đường hoàng oai vệ như giây phút ấy. Đã biết bao năm rồi anh không được đắm chìm trong một tình yêu như vậy. Anh chỉ muốn khóc òa.

Meri.

Lilly đã chọn cái tên này, vì Lilly là người quyết định mọi thứ. Cô bảo anh rằng hai người đã bàn luận điều này, nhưng Francis thừa biết cả hai chưa từng nghiêm túc bàn thảo với nhau bất cứ chuyện gì kể từ cái ngày anh nghỉ hẳn ở GOC và dành toàn bộ thời gian ở nhà. Lại thêm một lời nói dối mà anh chưa nỡ vạch trần. Điều đó không đáng. Chưa bao giờ đáng. Nhưng anh đã từng nghĩ rằng điều đó đáng, và suy nghĩ ấy cứ lớn dần lên trong anh: Meri, nghe tựa như lời nào đó trong một văn bản tiếng Latin đã rơi vào quên lãng.

Trầm mình giữa mớ bòng bong cảm xúc ấy, Francis chẳng thể ngăn đầu óc anh họa nên cảnh tượng khi mọi chuyện đã trở về đâu ra đó. Lilly quay trở lại là cô của ngày hôm qua, là chính cô của những ngày tháng anh còn yêu cô. Cả hai không bao giờ phải dùng đến năng lực nữa. Họ cứ thế sống ở nơi này thôi, trong ngôi nhà với khoảnh sân sau nho nhỏ bên hồ. Cơm áo gạo tiền sẽ chẳng còn là vấn đề, khi mà Lilly làm việc ngay dưới nhà và cả hai chẳng cần chi ra lấy một đồng cho con đi trẻ, và có lẽ thỉnh thoảng anh sẽ lại phải làm một chuyến đi xa, lại lên đường phụng sự GOC với cái mật danh mà anh đã có từ lâu cùng những người đồng đội kề vai sát cánh, nhưng tiền anh kiếm ra đều sẽ gửi về nhà và như thế là viên mãn với cả hai người. Chẳng biết từ lúc nào anh đã lẩm nhẩm những con số mà hàng tháng nay anh không nghĩ tới: £1000 cho mỗi Lục Thể cấp độ 4 nếu như anh xong việc trong một tuần. £500 nếu anh hoàn thành trong một tháng. Có thể tận những £5000 nếu đó là một nhiệm vụ truy lùng tầm cỡ được ăn cả ngã về không. Ít hơn thế nếu anh truy lùng cùng đồng đội - tiền kiếm được sẽ phải chia đều - nhưng anh có một lý do để trở về nhà, và một mục đích cho cuộc đời mình. Anh là một đặc vụ giỏi, và anh sẽ ngày càng giỏi hơn và tiền công sẽ ngày càng cao hơn và rồi anh sẽ được chiến đấu đơn lẻ, và rồi - sẽ phải làm tình báo trong lòng địch hay gì đó và đặt cược cả tính mạng mình cho công việc - nhưng chính những nhiệm vụ ấy mới là thứ đem lại nhiều thù lao nhất. Và nếu như anh kiếm được đủ tiền anh có thể về nhà đoàn tụ với đứa con gái nhỏ, sống cả tháng trời như một con người bình thường ở cái thị trấn bình thường này với cây súng và máy bộ đàm cất gọn vào đâu đó. Và nếu Meri cũng là một Lục Thể - giống như bố mẹ con bé - thì cũng được thôi. Hai người sẽ sắp xếp ổn thỏa thôi mà. Con bé sẽ được bình yên. Sẽ có những lễ Giáng sinh và những bữa tiệc sinh nhật và anh và Lilly sẽ gương vỡ lại lành và mọi thứ có lẽ sẽ quay về đúng quỹ đạo và cả hai người sẽ không bao giờ nhắc đến những ngày ấy nữa. Ba là cây nến vàng, mẹ là cây nến xanh, con là cây nến hồng. Ba ngọn nến lung linh, thắp sáng một gia đình.

Mọi chuyện sẽ đâu lại vào đó, Francis nghĩ, mường tượng về một tương lai khi cây súng anh đang giấu dưới gầm giường ngay lúc ấy được nhét gọn gàng vào trong cái tủ quần áo ở đầu cầu thang nơi anh vẫn thường cất nó mỗi khi không làm nhiệm vụ, báng súng im lìm tựa vào góc tủ cùng mấy chiếc ô như thể nó chỉ là đạo cụ của một bộ phim câm hài kinh dị. Anh đã rình trong phòng bếp chờ đến khi Lilly có khách mua hàng ở tiệm hoa dưới nhà để đem cây súng giấu xuống gậm giường, và nó đã nằm đó cả tuần nay rồi. Nhưng điều anh nhất thiết phải làm là đây ư? Giết chết người mẹ của con anh? Tại sao chứ? Để báo thù? Bởi cô đã quá xa vời, xa vời anh đã quá lâu? Cơn giận dữ của anh khi ấy tuyệt nhiên chẳng có chút tương đồng nào với những người đàn ông trên TV khi anh xem họ xuống tay sát hại vợ mình.

Sẽ chẳng đi đến đâu cả, Francis nghĩ sâu thêm. Bước tiếp theo sau tất cả những chuyện ấy sẽ là một đám cưới, và một phần nào đó sâu thẳm trong anh - những góc khuất ban sơ nhất trong tiềm thức anh mà vẫn còn nhìn ra được rằng cái kết sẽ thế nào - biết rõ anh sẽ không thể chịu đựng thêm một ngày nào nữa. Meri sẽ không chữa lành Lilly, bởi chẳng thứ gì có thể chữa lành Lilly cả. Đó vẫn sẽ là chuỗi sự kiện mà anh đã thuộc làu và chứng kiến chúng tiến triển trên mọi Lục Thể anh từng giết chết ở GOC mà thôi, và anh chưa từng hoài nghi những chẩn đoán ấy, những chẩn đoán được đưa ra bởi một ai đó phía sau màn hình máy tính cách xa anh hàng trăm dặm đường.

Đúng vậy, bây giờ hoặc không bao giờ nữa. Ngay bây giờ, hoặc cô sẽ không dừng những chuyện này lại trong vòng mười tám năm sắp tới, và rồi khi Meri đã ra ở riêng cô cuối cùng cũng có thể giết chết anh. Trốn chạy không phải là một lựa chọn - ai mà biết được cô sẽ làm ra chuyện gì với tâm tính như thế? Sẽ ra sao nếu cô nổi cơn cuồng nộ-

(francis không nghe thấy tiếng nước sôi trào lên bậc cầu thang thấp nhất, lên những tấm gỗ ốp bên ngoài quầy thu ngân, đổ xuống những bậc thang dẫn vào tầng hầm nơi anh đã không đặt chân đến suốt hàng tháng trời. tiếng thét của họ hướng lên trên và của francis hướng xuống dưới. một mối liên kết dở dang. một vệt mờ số phận.)

-hay giết chết đứa con gái bé nhỏ của hai người, hay sát hại một ai đó khác-

(quân GOC đã bao vây khu vực ngoại ô thị trấn hàng tuần nay và đêm đêm họ hành quân đến ngôi nhà nơi francis đương yên giấc, nơi mà họ gọi bằng những cái tên như "sào huyệt" hay "hang ổ". từ những căn buồng nơi lilly không cho anh bước ra ngoài nửa bước lúc nào anh cũng chỉ thấy được cảnh tượng bầu trời sâu chót vót cùng hồ nước trên mặt đất qua ô cửa sổ phòng ngủ và mọi thứ dường như đều tĩnh tại trong cái thế giới của anh, anh đã luôn quá ngây ngốc, anh, bằng tất cả kinh nghiệm đối mặt với lục thể mình từng có, bằng cái tư cách là một trong số chúng, làm sao anh lại có thể để chuyện này xảy ra khi mà cô đã giết chết bốn-mươi-tám người vào thời điểm sự cố cornwall chính thức được coi là đã bắt đầu mà chẳng ai hay, ở khắp trong nhà ngoài ngõ, chính xác cô đã làm thế nào và đích xác họ giờ đang ở đâu-)

-không, anh phải làm điều này. Cho chính bản thân anh. Cho đứa con gái nhỏ.

Cho Lilly, để đoạn tuyệt những giày vò nặng gánh nơi cô.

Và giờ anh ở đây khi làn nước sùng sục dâng lên trong cái ngày đầu tiên cuộc đời anh lật sang chương mới. Người bạn thanh mai trúc mã mà anh còn chẳng nhớ mình đã quen tự lúc nào đang nằm yên trên giường và cô tuyệt đẹp và thật gớm ghê, như một lưỡi lam vặn xoắn hòng đâm xuyên da thịt mỏng manh của hiện thực này với sự tỉ mẩn của một con dao phẫu thuật. Cái cách cô gọi tên anh làm lòng anh chùng lại trước sự dịu mềm của nó, trước tình yêu đong đầy trong nó, Francis, em nhìn con bé được không? và anh mỉm cười và ngồi trên nửa chiếc giường bên phía mình và cô đang nằm dài trên nửa chiếc giường bên phía cô và trong thoáng chốc, anh nhìn ra mọi duyên cớ từng khiến anh say đắm yêu cô, khi chúng phơi bày ra trước mặt anh như một thành phẩm trong tay một nhà bản đồ học. Ngay bây giờ chính là khoảnh khắc anh biến thành một con ếch ngu si, chúng lên tiếng, và đây chính là khoảnh khắc cô bật bếp đun nồi nước. Đây chính là khi lòng dạ anh phải thấp thỏm bồn chồn. Đây chính là lúc anh mềm yếu nhất trong mắt cô, trước những lời nói dối không thèm chớp mắt mà cô dành cho anh, những lời khiến anh nghĩ mình đang bị cuốn vào cái vòng xoáy diệt vong không lối thoát của giai đoạn 4. Cô đã xây nên ngôi nhà này như cách cô bồi đắp những nghi thức của mình, và cô bồi đắp những nghi thức của mình như cách cô đập tan anh thành từng mảnh rồi uốn nắn anh lại theo ý cô - chắp vá và quay cuồng với sự cố chấp vĩnh cửu, như một con vật tự trói mình mỗi lúc một chặt hơn, không khoan nhượng như thể làn nước đang dâng lên và sục sôi phụng sự một vị cổ thần đói khát.


@
@
@

"Anh yêu em," Francis lên tiếng.

"Chạm vào em đi," Lilly cất lời.


@
@
@

Hồ nước đỏ ngầu. Nó lấp kín những con đường của North Access và nhấn chìm những cánh rừng, những khe những suối. Nó truy lùng những ai trốn chạy. Nó vạch trần những ai yếu đuối. Nó luộc chín mọi thứ trên đường đi của nó bằng quyền năng tối cao của một vị thần-

-và Francis chạm vào cô, trước tiên đặt đứa bé vào vòng tay cô, rồi ôm gọn khuôn mặt cô trong đôi bàn tay ấy.

"Anh yêu em", anh nhắc lại. Anh chẳng biết tại sao mình vẫn còn yêu cô nữa, sau tất cả những lần cô đối xử tệ với anh. Chẳng phải anh nên căm hận cô sao? Vì đâu anh lại không căm hận?

Vì mày thà bị đối xử như cứt còn hơn phải gặm nhấm sự cô độc một mình, một giọng nói sâu thẳm trong anh cất lên, và bỗng chốc anh lại khát khao một cuộc đời khác, cuộc đời anh khi mà tâm trí cô được sửa chữa một cách diệu kì. Anh nhẩm đi nhẩm lại trong đầu như một lời cầu nguyện, bằng-cách-nào-đó-anh-sẽ-làm-trụ-cột-gia-đình-và-bằng-cách-nào-đó-anh-sẽ-bảo-vệ-em-và-meri-và-bằng-cách-nào-đó-anh-sẽ-yêu-em-cho-tới-tận-khi-anh-không-còn-có-thể-và-dù-đó-là-bất-cứ-khi-nào-hay-bất-cứ-nơi-đâu-anh-vẫn-sẽ-tìm-cách-để-bản-thân-mình-tin-rằng-em-vẫn-yêu-anh-và-cư-xử-với-anh-hợp-lẽ-và-anh-vẫn-sẽ-để-mọi-thứ-trôi-đi-và-thấy-mình-tã-tượi-dù-chẳng-hiểu-tại-sao-và-anh-vẫn-có-em-bên-anh-để-nói-anh-nghe-anh-rẻ-rúng-thế-nào-và-anh-chỉ-đợi-đến-ngày-em-muốn-làm-chuyện-ấy-thêm-lần-nữa-và-dù-thế-anh-vẫn-chẳng-thể-ngăn-em-lại-bởi-anh-đã-như-đóng-băng-vì-sợ-hãi-và-anh-vẫn-yêu-em-vì-meri-và-vì-cuộc-sống-này-của-anh-và-vì-em-của-ngày-hôm-qua-nên-bất-kể-anh-có-phải-chịu-đựng-mười-năm-hay-hai-mươi-năm-hay-chịu-đựng-đến-cuối-cuộc-đời-này-anh-vẫn-sẽ-có-cách-để-vờ-như-anh-yêu-em-mãi-mãi-

Cô ngoảnh mặt đi, bất chợt, về phía cánh cửa và đột nhiên thời cơ đã đến, khi cô bị đánh lạc hướng bởi làn nước ùa vào từ khe dưới cánh cửa phòng ngủ, hơi nước sôi cuồn cuộn bốc lên.

"Francis?" cô hỏi mà chẳng hề ngoảnh lại nhìn anh, và anh buông tay mình ra rồi lặng lẽ dùng hết sự can đảm dành cho những tình huống sống còn của một sát thủ GOC bên trong mình để chộp lấy cây súng dưới gầm giường, và anh suýt nữa nắm trượt nó, "Có chuyện này em muốn nói với anh-"

Nhưng sau cùng cô chẳng kể anh nghe chuyện gì, vì chỉ vài giây sau đó cô đã chết và Francis đã ôm lấy đứa nhỏ chạy khỏi làn nước lũ. Anh lao ra khỏi phòng ngủ và thấy nước đã ngập đến mắt cá chân anh bất chấp anh đang ở tầng trên của ngôi nhà, đốt cháy da thịt anh như một con dao nung nóng. Thị trấn này đâu có nằm trong một cái hố - làm thế quái nào nước lại cứ dâng lên? Meri khóc thét lên bởi tiếng súng và Francis bàng hoàng đến lặng câm, đứng giữa tình cảnh da thịt anh đang bốc cháy và anh vừa giết chết người thân yêu nhất của anh trong cuộc đời này và sự thật rằng nước đã nhấn chìm mọi thứ trừ lối đi bên trái anh, và ban đầu anh chẳng có nơi đâu để đi nhưng rồi đột nhiên lại có.

Francis không thể nào nhớ rõ được tất cả những điều đã xảy ra suốt 80 tiếng đồng hồ sau đó. Anh chưa từng nghĩ rằng sẽ có ngày mình phải chạy trốn xa đến vậy. Leo lên cầu thang ở cuối hành lang và rồi anh sẽ ở ngay cạnh cánh cửa tủ quần áo chứa những chiếc ô và cây súng đạo cụ phim hài kinh dị và anh đã chạy ngang qua phòng tắm nơi anh đã quen với việc sực tỉnh dậy rồi ra đó nôn thốc nôn tháo hàng đêm sau khi Meri thành hình trong bụng mẹ, và anh đã chạy ngang qua căn bếp nơi cô hay ngồi đó trách móc anh rằng anh tệ bạc đến thế nào, và anh đã chạy qua căn phòng ngủ nơi thi thể cô nằm đó im lìm và chạy qua phòng trẻ em trống rỗng và chạy lên thêm một tầng cầu thang và anh lại ở cạnh cái tủ đựng ô thêm lần nữa và đi lên và đi lên và đi lên và nước cứ dâng lên và đứa nhỏ nặng trĩu trên tay anh nhưng rồi nó cũng ngừng khóc và thỉnh thoảng cửa phòng ngủ lại khép chặt hay cái gì đó to lớn và nhòe mờ đang giãy giụa trong bồn tắm và Francis không dừng lại, cũng chẳng nhìn xem nước có đang dâng lên không, chẳng dừng lại kể cả khi trông thấy những tên lính mũ giáp đàng hoàng đang đuổi theo mình. Anh phải chạy trốn khỏi vị thần già nua và toàn năng đang nằm lại dưới đáy hồ kia, kẻ mà anh đã bị trói buộc với hắn bằng một nghi thức chưa từng được thực hiện suốt cả ngàn năm nay rồi. Anh phải chạy trốn khỏi điều gì đó mà bản thân anh cũng không rõ nữa - nỗi sợ của chính anh, hay ngôi nhà? Chạy khỏi Lilly? Chạy khỏi những kẻ khoác trên mình bộ áo giáp đen? Chạy khỏi North Access? Phải chăng anh đã nghĩ rằng nếu anh chạy đủ xa và đủ nhanh anh sẽ không bao giờ quay trở lại nơi anh bắt đầu? Phải chăng anh đang chạy trốn khỏi những ý niệm cổ xưa, khỏi linh hồn của dòng nước lũ và của những đường ngang lối dọc sẽ ám ảnh anh suốt phần đời còn lại:

Montauk? Phải chăng đó chính là điều anh sợ hãi dù anh chẳng hiểu rõ nó là gì? Ngay cả khi đoạn hồi tưởng ấy lặp đi lặp lại trong giấc mơ của anh hàng đêm? Montauk, như cách nó được viết trong những thư tịch cổ. Nỗi sợ hãi chất chồng. Bàn tay của vị xích thần.

Anh chạy cho tới khi những quả bom hơi chúng ném lên cầu thang khiến anh quá mệt mỏi để tiếp bước, và thế là hết.


Ghi chú Thử nghiệm SCP-4231-B

Ngày 12/01/1989, các điều tra viên đã khởi động quá trình tra vấn SCP-4231-B về những chi tiết của Quy trình Montauk - quy trình anh đã trải qua từ nhiều tháng trước - và về bản chất của những sự việc quấy rối tình dục cùng bạo hành mà SCP-4231-A đã tác động lên anh. Ngay khi cuộc điều tra được tiến hành, SCP-4231-B cởi giày và tất, đồng thời tạo ra một lọ sơn móng tay nhỏ. Sau đó anh bắt đầu bôi lọ sơn này (màu "Hồng Bãi Biển") lên móng tay và chân mình trong im lặng. Sau 45 phút liên tục sơn, Đặc vụ Youlen được các giám sát viên cho phép loại bỏ lọ sơn móng tay khỏi tầm nhìn của SCP-4231-B, để quá trình thẩm vấn có thể tiếp tục. Quá trình thẩm vấn được tái khởi động 2 phút sau đó. SCP-4231-B hong khô móng tay và chân mình trong khoảng 10 phút tiếp theo; trong khoảng thời gian này, anh không giao tiếp gì với các điều tra viên. Sau 10 phút, SCP-4231-B lấy một lọ sơn móng tay khác ra từ trong chiếc giày bên trái của anh (màu "Xanh Tắc Kè") và tô thêm lớp sơn thứ hai. Việc liên tục tịch thu và tạo ra những lọ sơn móng tay mới tiếp tục được lặp đi lặp lại trong 5 giờ, trước khi quá trình thẩm vấn được ngừng lại. SCP-4231-B không trả lời câu hỏi nào trong suốt khoảng thời gian này.

Ngày 3/23/1990, các điều tra viên đã khởi động quá trình tra vấn SCP-4231-B về những chi tiết của Quy trình Montauk, và về bản chất của những sự việc quấy rối tình dục cùng bạo hành mà SCP-4231-A đã tác động lên anh. SCP-4231-B, ngay khi ngồi xuống bàn thẩm vấn, đã lập tức lôi ra vô số lông mi giả từ trong túi quần. Trái với dự đoán của các điều tra viên, SCP-4231-B gắn những lông mi giả này vào cổ tay, xếp chúng chồng lên nhau theo vòng tròn, trong khi né tránh mọi câu hỏi. Cuộc thử nghiệm dừng lại sau ba giờ, trong khoảng thời gian đó SCP-4231-B đã gắn 548 cặp lông mi giả lên tay mình. Cuối buổi thẩm vấn, SCP-4231-B đã đưa ra phản hồi duy nhất tới các điều tra viên:

Đặc vụ Youlen: Anh đang làm cái đéo gì…

SCP-4231-B: Làm cho tay tao xù xì.

Ngày 2/14/1991, các điều tra viên đã khởi động quá trình thẩm vấn thường niên SCP-4231-B về những chi tiết của Quy trình Montauk, và về bản chất của những sự việc quấy rối tình dục cùng bạo hành mà SCP-4231-A đã tác động lên anh. Giữa buổi thẩm vấn, khi vẫn chưa đáp lại một câu hỏi nào, SCP-4231-B tạo ra một miếng lam kính. SCP-4231 không đưa ra thêm phản hồi nào cho các câu hỏi suốt phần còn lại của buổi thẩm vấn này.

Miếng lam kính tạo ra bởi SCP-4231-B đã trở thành đối tượng của một cuộc điều tra sâu rộng kéo dài 4 tháng được thực hiện bởi các đội kĩ sư quản thúc của SCP-4231, SCP-231, và SCP-2317. Sau khi những đánh giá bằng kính hiển vi quang học, phân tích hóa học và vật lý, cùng những nỗ lực để liên hệ vật thể này với các đoạn Kinh Erikesh khác nhau đều thất bại, kính hiển vi điện tử được sử dụng để tìm kiếm các đặc điểm đáng chú ý khác trên miếng lam kính. Vật thể được xác định là một lam kính trống hoàn toàn và không sở hữu đặc tính dị thường nào.

Tính đến ngày 03/21/2017, không một cuộc thẩm vấn nào trong số 28 cuộc thẩm vấn thường niên SCP-4231-B về vấn đề lạm dụng tình dục và quy trình Montauk được cho là đã mang lại bất cứ thông tin hữu ích nào. Xem tài liệu SCP-4231-B-1 để truy cập bản ghi chép nội dung của toàn bộ các buổi thẩm vấn.


đó là "tên tiến sĩ" đớn mạt mà bạn thấy

Vào tháng Năm năm 1990, các chuyên gia tâm lý học của Tổ Chức đã xác định rằng trạng thái tâm lý của SCP-4231-B tồi tệ đi trông thấy trong điều kiện bị quản thúc liên tục, và đưa ra một kiến nghị cho phép SCP-4231-B sống và làm việc như một nhân sự của Tổ Chức, với lợi thế là kinh nghiệm thực địa dày dặn của anh từ khi còn là một đặc vụ của GOC để hỗ trợ cho dự án tìm và xác định năng lực Lục Thể lúc bấy giờ mới đang phát triển bước đầu. Ngoại trừ thực tế rằng anh vẫn giữ thái độ kém hòa đồng và tỏ ra ngang bướng khi nhắc đến những vấn đề sức khỏe và cuộc sống ở North Access của mình, SCP-4231-B nhìn chung được ghi nhận là một cá nhân với hiểm họa thấp cùng năng lực hành vi ổn định và đảm đương tốt các công việc nhẹ. Anh đã được cho phép chấm dứt việc tuân theo các quy trình quản thúc cũ và tiếp cận với các khóa học trình độ Đại học vào cuối năm 1990.

Quy trình quản thúc hiện tại của SCP-4231-B bao gồm theo dõi sát sao, thẩm vấn thường niên, và yêu cầu bắt buộc tham gia các bài thử nghiệm để xác định trạng thái năng lực của anh tại thời điểm kiểm tra. Trạng thái SCP vẫn được giữ lại, dù trong những năm gần đây việc xóa bỏ trạng thái này để thay thế bằng phân loại Cá nhân Đáng lưu tâm đã được cân nhắc để phù hợp với hoạt động thường ngày ít gây ra hiệu ứng dị thường của SCP-4231-B, ngoại trừ các biểu hiện PTSD trong giấc ngủ và các triệu chứng phân ly đặc trưng cho người đã trải qua sang chấn tâm lý; cả hai nhóm biểu hiện này đều đã thuyên giảm trong điều kiện sống với sự quản thúc của Tổ Chức được tiết chế.

SCP-4231-B sẽ làm việc tại Tổ Chức được tròn 30 năm tính tới thời điểm năm 2020.


Ba Cảnh tượng của Một Ngành Công nghiệp Mới Đặc sắc

Leopold, Cornwall, Mười hai dặm tính từ North Access, ngày 3 tháng Bảy, 2016

Hoàng hôn buông xuống, và y như những gì họ đã làm từ tối thứ Hai, những ông già dõi theo chăm chú.

Màu Lục là một quán rượu nằm trên con đường chính của Leopold. Nó chưa từng đổi thay từ những năm 70 đến giờ, và các ông già thì lại quá đỗi ham mê những điều bất biến. Ở đây có cái ghế đẩu chi chít vết xước, ở kia, một con dao cắm lút cán vào quầy rượu nơi dăm ba cuộc ẩu đả lê thê và rắc rối nào đó đã kết thúc lãng xẹt đến tức cười; đã từng có một đợt chống đối rầm rộ khi người ta định đặt một bộ phát Wi-Fi để thu hút đám choai choai, và gần như là cả một cuộc bạo loạn khi người ta gỡ xuống một bức tranh cũ với hàng bao nhiêu lỗ thủng phi tiêu trên đó.

Những ông già của Leopold - ít nhất là những người vẫn chìm đắm trong quá khứ của những ngày họ mới nghỉ hưu, những người đã chẳng lựa chọn bước tiếp, lên London sinh sống trong một ngôi nhà đầm ấm hay dành những năm cuối đời đâu đó vòng quanh thế giới - chỉ toàn những nông dân và chủ trại chăn nuôi sống ngay bên ngoài vùng này, những người đã từ chối rời đi, và cảm thấy ổn thỏa hơn khi mọi thứ vẫn giữ nguyên trật tự chừng nào họ còn ở đó. Chính xác mà nói, tối nay họ có bốn người ở đây, và họ có lẽ đã không thức khuya đến thế này nếu chẳng có một dấu hiệu đổi thay nào lọt vào mắt họ khiến họ cảm thấy đáng để dõi theo và phàn nàn với nhau ở cái quán ăn cách đó vài ngôi nhà khi mặt trời lên. Người chủ quán rượu, cũng là người trông quán - Dan là tên ông, một ông già mập ú gần bảy mươi tuổi đã quản lý quán rượu này chẳng khác nào cách người cha của ông đã làm - đôi khi lại tựa vào quầy rượu, nghiêng người nhìn ra ô cửa sổ phía trước, nơi ba con người còn lại đương ngồi im lặng với những ly bia xung quanh, chăm chú ngắm nhìn.

"Có gì mới không?" Ông gọi vọng ra khi ánh đèn tù mù len lỏi qua những tòa nhà gạch cũ, rồi lịm dần nơi đại lộ xa xa. Và ông chỉ nhận được một tràng hồi đáp hết "không" rồi lại "chưa".

"Ồ, bọn tôi sẽ bảo anh khi chúng đến mà, Danny!" Christopher la lên. 80 tuổi và chưa có dấu hiệu dừng lại, Christopher vẫn luôn là một kẻ ồn ào. Họ được nghe kể rằng ông đã bị một con ngựa húc vào đầu hồi còn nhỏ - nó đã làm ông lãng tai từ hồi lên 8 - nhưng họ chưa từng biết rõ câu chuyện này của ông có thật hay không.

"Ừ, bọn tôi sẽ nói mà," Arthur lên tiếng, từ tốn hơn rõ ràng. Ông là người trẻ nhất trong số họ, 53 tuổi, và vẫn đang làm việc trong nông trại nơi ông nuôi bò và ngựa. Ông chưa hề quan tâm đến việc thay đổi bản thân cho phù hợp với cái hội người già này. Một phần nào đó bên trong Arthur tự hỏi rằng có phải ông đang già đi, không thể bàn cãi, khi mà mọi vui thú cuộc đời ông dạo này đều chỉ đến thế mà thôi.

Dan lại lủi vào trong bếp. Peter uống một ngụm lớn chậm rãi, đầy suy tư trong khi ngắm nhìn con đường nứt nẻ. Ông là một ông già cao dong dỏng, gầy gò với đôi mắt kính tròn dày tựa đít chai, người đã là giáo viên của trường mầm non địa phương được gần ba mươi lăm năm cho tới khi ấy. Khí chất của Peter làm người ta cảm thấy như thể ông không ở đây để nhìn ngắm vạn vật đổi thay, mà bởi ông đã nhìn thấy chuyện gì đó bất thường đến khó chịu vừa xảy ra ngay ở phía nam Leopold. Có khi chính ông là người khơi mào ra chuyện ấy cũng nên.

"Chúng đang đến đấy," Peter nói, cốc bia ông đặt xuống bàn kêu thịch một tiếng nhẹ.

"Không đâu. Đừng hi vọng để rồi thất vọng, Pete," Christopher nói. "Nhìn ra đường đi. Chả có ai đang đến cả."

"10 giờ rồi," Arthur cân nhắc. "Đêm qua mấy giờ chúng đến?"

"Chắc phải tầm mười một giờ," Christopher bực dọc, "Đêm qua đến lúc ấy tôi đã uống được ba cốc, nên không thể là-"

Peter đưa ngón trỏ lên. Hai người kia ngừng lời.

"Nhìn kìa," ông nói trong sửng sốt. "Chúng đây rồi."

Ba người nhìn xuống đường, và thấy một chiếc xe tải lọt vào tầm mắt.

Chiếc xe thật khiến người ta phải ngỡ ngàng bởi nó mới toanh. Nó sáng bóng và không một vết xước, màu xanh lam sẫm. Đó là một con xe rơ moóc, và nó gần như chiếm trọn làn trái của con đường chính với đèn pha sáng rực; thùng hàng được phủ bạt và buộc dây, nhưng khi chiếc xe nảy lên vì bập phải cái ổ gà cũ trước quán rượu, Peter nheo mắt lại đằng sau cặp kính và có thể nhìn ra những thanh dầm thép được che đậy bên dưới. Mười hay mười hai gì đó, ông ước lượng.

"Dầm," giọng nói của Arthur vang vang, ông cúi đầu nhìn xuống phía dưới cho rõ, "Không phải hôm qua chúng chở dầm tới rồi à?"

"Cần khá nhiều dầm để xây một nhà máy đấy, tôi nghĩ thế," Christopher lè nhè, "Nhớ cái hồi chúng xây nhà máy sirô ngô ở Lenning không? Chúa ơi, tôi chưa từng thấy nhiều sắt thép như thế trong đời mình- Ê, Danny! Chúng đến rồi này!" Ông gào lên gọi vào trong bếp.

"Cái gì?" Từ trong bếp, Dan gào lên lại. "Ông nói gì cơ? Chúng ở đây rồi à?"

"Ừ! Đúng rồi! Ra mà nhìn!" Arthur kêu lên. Peter không chấp nhặt nữa, hai bàn tay xoa xoa hai bên thành chai bia lạnh. Chúng tới đây thật rồi.

Dan khệnh khạng bước từ trong bếp ra với một chai whisky, ngồi xuống ở một đầu bàn, mặt hướng ra phía cửa sổ. Arthur và Christopher lại tiếp tục bình luận, không thể ngừng lời trước cái nỗi sợ chung như thể bằng cách nào đó chiếc xe kia đã phá tan tành nhà của họ.

"Dầm! Lại thêm dầm kìa! Giá mà anh nhìn thấy được hết chỗ đó," Christopher rên la. "Chúa ơi, các anh nghĩ rốt cuộc chúng cần bao nhiêu dầm chứ?"

Đèn pha lại sáng thêm trên đỉnh đồi. Lần này là một xe bán tải, cũng là xe mới, cũng chẳng một vết xước nào. Chiếc này màu trắng. Bốn người cùng nheo mắt lại cố nhìn sâu vào trong màn đêm, chỉ để thấy những ánh đèn tan vào trong ánh sáng của quán rượu. Họ lầm bầm mất hứng. Chiếc xe tiếp theo là một xe van trông cũng mới y như thế, và theo sau nó là một xe bán rơ moóc. Vào cái lúc chiếc rơ moóc tiếp theo đi qua ổ gà - lần này với hai cuộn dây điện chất đầy phía sau - bốn ông già đã bắt đầu bàn luận xem những thứ đó được dùng để làm gì.

"Một nhà máy keo," Arthur nói ra trong ngờ vực. "Ở North Access. Chả ai làm gì ở North Access suốt ba chục năm nay rồi, thế mà tự nhiên chúng lại quyết định xây một nhà máy keo ở đó là sao?"

"Này tôi bảo nhé, đất ấy bị bán rồi," Christopher nói, "Có công ty nào đấy đã tìm ra được khu đó và mua lại từ nhà nước."

"Không có chuyện mua đất từ nhà nước đâu, Chrissy! Làm gì có cơ chế ấy." Arthur réo lên. "Mà đất North Access còn chẳng được bán nữa là. Nếu có thì chúng ta đã biết rồi."

"Thế thì các anh lại chưa nghĩ trúng trọng tâm vấn đề rồi. Chẳng ai thèm mua cả một thị trấn ma chỉ để xây một nhà máy cả. Với lại anh nghĩ đám công nhân sẽ sống ở đâu?"

"Không phải ở North Access, chắc chắn," Christopher nói. "Anh nghĩ họ không biết gì về vụ ngập lụt ư?"

"Đó không phải là ngập lụt," Dan ngắt lời. "Chúng nói dối chúng ta. Vụ đó rõ ràng đéo giống ngập lụt chỗ nào."

"Dan nói đúng đấy, Chrissy. Vụ đó kết thúc sau một trận hỏa hoạn mà, anh nhớ không?" Arthur nói. Christopher tặc lưỡi lắc đầu.

"Pete đã nhìn thấy chuyện đó xảy ra mà, phải không Pete?"

Đúng là Peter đã chứng kiến.

Mẹ Peter khi xưa vẫn luôn nghĩ rằng có điều gì đó kì lạ về đứa con trai của mình. Bà là một trong những người tin trên đời tồn tại những đứa trẻ được sinh ra với năng lực siêu nhiên đội lốt người thường, và tin ông là người nhạy cảm theo một cách rất khác với bà. Thực tế, Peter còn hơn cả nhạy cảm - nhưng ông đã không biết điều đó cho tới hàng bao nhiêu năm sau ngày mẹ mất, khi cậu thiếu niên với cây súng ấy tiếp cận cánh cổng ngôi trường mầm non rực rỡ sắc màu của Leopold và ập vào bên trong.

Nhưng đó là cả một câu chuyện khác. Và sau vụ đó mới tới Cornwall.

Một ngày cuối tháng Bảy năm 1989 nọ, Peter rời chỗ làm, trong lòng nổi lên linh cảm hệt như những gì ông cảm thấy trong cái khoảng thời gian chưa đầy hai mươi phút trước khi con người cầm súng nọ xuất hiện, và khi ông về tới nhà việc đầu tiên ông làm là đi dạo vòng quanh, lang thang như một con chó bị bão giông quấy rầy. Chẳng cảm xúc nào trong ông có thể được định nghĩa vào lúc ấy - Ông có nên trốn đi? Nhưng ông đâu có sợ hãi, thành thật mà nói. Thấp thỏm bất an. Đợi chờ một thông điệp nào đó chăng?

Và rồi, đột nhiên - Peter bị cuốn vào chuyện đó.

Thật thú vị. Peter chưa từng có một đức tin, nhưng cảm giác ấy giống y như khi một con người tìm được một ai bầu bạn giữa cái chốn đồng rêu lạnh lẽo nơi người ấy đã sống cô độc cả cuộc đời. Nó chẳng khác nào cảm giác khi người ta đứng đằng xa nhìn thấy ánh sáng nhập nhèm của một thành phố, hay khi nhận ra chốn thị thành ấy đã ở gần mình biết bao nhiêu. Ông nhớ đến những con người thông thái mà mẹ ông luôn nài nỉ ông tìm hiểu về họ, những câu chuyện mà ông chưa bao giờ tin tưởng. Ông nhớ đến những vì tinh tú.

Có chuyện gì đó đang xảy ra, Peter nghĩ.

Và cứ như thế, ông lái xe về phía North Access và cảm giác ấm áp cứ rõ dần lên. Rồi ông đến gần nơi ấy hơn và sự ấm áp chuyển thành nóng nực. Rồi ông tiến thêm một dặm nữa và cái nóng trở nên bỏng rát, và ông đỗ xe lại rồi loạng choạng bước ra với nỗi khiếp hãi kinh hoàng khi phải nhìn thấy một cảnh tượng mà ông không thể nào tái hiện lại cho người khác nghe bằng lời. Đâu mới là thực tại vào lúc ấy, trong khoảng không gian trước mắt ông, từ nơi hàng cây kia bắt đầu? Những giọt dầu bắn tung tóe ra khỏi một chiếc chảo nóng trên bếp lửa - phải chăng đây là thứ ông đã chứng kiến, nếu như nơi ấy không cách xa ông cả nửa dặm đường? Làm sao ông có thể giải thích cho người khác rằng một phần của thế giới đã sôi lên theo đúng nghĩa đen khi mà chỉ con mắt thứ ba của ông mới có thể nhìn thấy những tổn thất tan hoang gây ra bởi dòng nước lũ ào ạt ấy, một hố sụt vốn dĩ đã ở đó hàng thiên niên kỷ nay lại càng lõm xuống thành một dòng sông nóng chảy của đá và xương ngay trước mặt ông trong khi cái vỏ bọc cỏ cây bề ngoài của nó vẫn xanh ngát yên lành như một ảo ảnh đầy giễu cợt-

"Tôi chẳng thấy gì cả," Peter nói.

Một chiếc xe tải nữa đi qua quán rượu, và Peter kết lại lời khẳng định của mình bằng một ngụm bia.

Chúng đang xây dựng cái gì đó. Ông không rõ chúng là ai, hay chúng đang làm gì, hay liệu chúng có nhìn ra hoặc thậm chí là cảm nhận thấy cái hố sụt tan hoang đang chực chờ sụp đổ của thực tại đã bị bỏ lại ở cái nơi từng là North Access, Cornwall ấy. Nhưng Peter đã chứng kiến. Và ông đã từng sợ hãi.


Nếu bạn bảo Robert Scranton của bốn mươi năm trước rằng những giả định về cách thức ổn định thực tại mà cha ông đặt ra trước đây là đúng, và nếu cứ tiếp tục với định hướng ấy, ông sẽ chế tạo thành công một thiết bị với khả năng làm điều đó theo ý muốn, có lẽ ông sẽ chẳng đời nào tin. Cha của ông - Arnold Scranton - đã hết lòng nuôi nấng ông những mong ông sẽ tiếp bước chính mình tại Tổ Chức khi mình ra đi, và trong khi Arnie càng lúc càng già nua lẩm cẩm, Robert cũng càng hoang mang về chính những việc quái quỷ có trong dự định của bản thân mình. Những văn tự cổ nhòe mờ dường như chẳng chút đáng tin - và văn tự cổ nhòe mờ viết bằng thứ ngôn ngữ cổ kì cục được mua lại từ một buổi đấu giá của MC&D càng cực kì không đáng tin. Cha ông chỉ có một cách duy nhất để đọc và hiểu chúng, đó là thuê một mụ phù thủy già với chút kiến thức gì đó về ma thuật cổ làm người phiên dịch.

Tất nhiên, những chuyện ấy đều xảy ra trước khi Robert ra đời. Nếu ông có dù chỉ một chút quyền can dự vào chuyện cha mình dùng cái gì làm nguồn tham khảo chính để biết được những mánh lới cần thiết khi xây dựng công trình ấy, ông đã thử cố gắng hướng cha mình tới cái gì đó chính thống hơn đôi chút rồi. Hoặc có khi ông đã khuyên cha mình rút lui hẳn khỏi cái lĩnh vực này cũng nên. Thực lòng mà nói, công nghiệp tự động đã luôn là kế hoạch dự phòng của cá nhân Rob phòng khi cha ông thực sự hóa điên; ông, nghiêm túc mà nói, không đi học lấy một cái bằng kĩ sư chỉ để mày mò với dăm ba nghi thức ma thuật cổ. Và chẳng có ai bên ngoài cái nhóm kĩ sư thân thiết với Rob cần phải biết về phần đó trong kế hoạch của ông.

Nhưng giờ, ông ở đây. Và đây là năm 2016, và các O5 đã quyết định xây nên một nhà máy.

Một nhà máy. Giờ thì đó mới là một bất ngờ cho Robert Scranton, nhưng sau hàng thập kỉ khi mà Tổ Chức ngày càng phải dựa dẫm vào Neo Hằng thực Scranton trong tất cả mọi việc từ quản thúc cho đến điều hành các đội đặc nhiệm, trên đời thành ra lại tồn tại một nhu cầu nhất định. Đây sẽ không phải một nhà máy lớn - chỉ có đủ không gian để dành hoàn toàn cho việc tạo ra chúng thôi, một xưởng sản xuất đặc biệt cho Robert và đích xác 24 kĩ sư quản thúc phụ tá ông. Bản thân địa điểm mà các O5 đã chọn cũng cần vài ba chiếc neo cho chính nó, nhưng nó vốn dĩ đã là một vùng ổn định bên trong một điểm quản thúc - hơi xa xôi hẻo lánh một chút, đặt bên trên một chuồng ngựa cũ đã bị họ phá đi. Họ có cả một câu chuyện ngụy tạo và tất thảy những gì cần thiết khác. Thật hoành tráng làm sao.

Điều duy nhất không cho phép họ chuyển dịch hoàn toàn từ một phòng thí nghiệm của Điểm-88 thành một trung tâm hoạt động chuyên trách ở Cornwall là vấn đề nguồn cung - những nguyên liệu họ cần cho nghi thức. Và Robert đã trình bày rất cụ thể với các O5 rằng ý ông chính xác là gì khi ông nói về nguồn cung. Họ đã khẳng định với ông rằng ở đâu có cầu, ở đó sẽ có cung; họ cũng nói rằng cả thế giới đã tiến lên theo sự tiên phong của Tổ Chức trong lĩnh vực phát triển neo hằng thực, và đã cấp cho ông một tài khoản hậu hĩnh để chi trả cho những thứ họ cần. Robert không chắc chắn về điều họ thật sự muốn ông cùng các cộng sự làm với số tiền ấy - họ có kì vọng nhóm của ông sẽ làm tất cả hay không, kể cả tự duy trì nguồn cung? Bởi vì vấn đề đó gần như chẳng liên quan tới chuyên môn của Robert chút nào. Cho tới giờ, họ vẫn đang dùng nguồn cung có từ những năm 80, nhưng chỗ đó sẽ hết nhanh thôi.

Nhưng sẽ không sao cả. Họ sẽ tìm ra cách thôi, ông chắc chắn. Mọi thứ vẫn đang tiến triển trơn tru ở phía ông - và ông sẵn sàng để đâm lao thì phải theo lao, ít nhất là cho tới khi công trình xây dựng nhà máy ấy được hoàn thành.


Ngày 4 tháng Tư, 2016. 1000 giờ. Cứ điểm Giấu tên tại Newcastle, Anh.

D.C al Fine đang ở trước mặt con người ấy, khi họ ngồi bên trong kho lưu trữ, vây quanh là hàng bao nhiêu giá sách gỗ cũ kỹ chồng cao tới tít tận ô cửa sổ trời trên trần nhà. Ô cửa sổ ấy có đầy những tia laser chiếu vào, Coda biết. Nếu người ta để ý thật kĩ những bóng người đổ trên sàn nhà lót thảm và trải trên hàng chồng hồ sơ chất đầy xương máu lẫn ghi chép đã hóa thành tro bụi của các đặc vụ GOC đã hi sinh từ lâu, người ta hẳn sẽ thấy rõ bóng ma lờ mờ của họ phảng phất đâu đó quanh căn phòng ấy. Điều này thực sự phá hỏng không khí nơi đây, Coda nghĩ; nó làm người ta phải nhớ rằng ngay bên ngoài cánh cửa kia là một mê cung những hành lang thép, những phòng điều khiển, và phía dưới họ đủ xa chính là một bệnh viện chất đầy những đặc vụ đầy thương tích và đang chết dần chết mòn. Một mật vụ của Tổ Chức ở bên trong căn phòng này có thể luận ra ngay kết cấu của cả hệ thống ấy trong chớp mắt khi chỉ vừa mới nhìn qua những ốc vít sắt nửa kín nửa hở trên tấm ván gỗ gắn ở chân tường phía bắc kia.

Một người bình thường hẳn sẽ liên tục phải phân tâm trước tín hiệu radio truyền về từ khắp thế giới liên tục rè rè bên tai họ, nhưng Coda đã ở vị trí này quá lâu để chúng có thể khiến con người này mất tập trung. Hai người ngồi trong căn phòng, ánh sáng chiếu đẫm lên mình, và chẳng khó khăn gì để nhận ra vai vế của cả hai; D.C với bộ vest nâu may đo đương khuấy tan đường trong tách trà, bên cạnh Coda với áo len và quần jeans phi giới tính, phờ phạc và hốc hác, kéo chiếc microphone gắn trên tai nghe ra xa khỏi miệng để uống một ngụm từ tách của mình. Gần, nhưng cũng đủ xa; hai cỗ máy phi thường ấy chạy song song không chệch nhau lấy một nhịp. Như những cần đàn vĩ cầm cùng nâng lên trong một bản hợp xướng. Và những tia laser mờ mờ thì cứ in bóng xuống căn phòng bụi bặm ấy.

D.C đang cáu bẳn, và Coda không thể nào nhìn ra đích xác điều gì đang khiến ông phật lòng. Coda lưu vào đầu óc những biểu hiện gương mặt thoáng qua cho thấy gần đây ông đang bất an với vẻ hứng thú nhạt nhòa của một con chó già ngước nhìn lên chủ. Hai người nâng những tách trà đen đặc trút ra từ cái ấm thép trên góc trái bàn, hớp một ngụm trong khi lắng nghe một đặc vụ ở Pháp bị nổ tung khỏi xe motor vì một quả bom ống đột nhiên xuất hiện mà thần không biết quỷ không hay. Mớ âm thanh hỗn độn sau khoảnh khắc ấy phát ra trong tai nghe của Coda thậm chí còn lan tới tận chỗ D.C đang ngồi. Ông cố gắng không để tâm tới nó, nhưng không thể ngăn mình nhíu mày trước những âm điệu ảm đạm theo sau - những từ ngữ trộn lẫn cả vào nhau và thuộc về không biết là bao nhiêu ngôn ngữ, nhưng từng là một đặc vụ thực địa suốt hàng chục năm, bản thân ông hiểu rõ mồn một những người kia đang nói gì và cũng hãi hùng trước thứ âm thanh nọ. Coda ngừng mân mê sợi chỉ thừa trên tay áo và giảm âm lượng xuống ngay khi họ nhận ra phản ứng chẳng mấy rõ ràng của ông. Cử chỉ đó có thể coi là lịch sự, nhưng D.C không thể ngăn mình tưởng tượng ra cái cảnh người đặc vụ kia miên man lịm dần đi giữa con đường cao tốc Pháp, chẳng có một ý niệm gì về hai con người biết rõ rành rành hoàn cảnh của mình đang ngồi điềm tĩnh uống trà cách đó hàng ngàn dặm.

Coda đằng hắng. "Paris sẽ lo được," con người ấy nói, như thể khi ấy điều đó có thể nào cứu người đặc vụ kia khỏi bị đâm chết bởi một chiếc minivan chỉ vài phút sau. D.C gật đầu. Ông có thể lờ mờ nghe ra một tràng liến thoắng đều đều của điều phối viên tại Paris cắt ngang mớ xì xào hỗn độn trong tai nghe của Coda. Dù ông phần nào lạc quan hình dung rằng họ vẫn còn có thể làm điều gì đó để cứu người đặc vụ kia, ông biết rõ cơ may sống của người đặc vụ chỉ như ngàn cân treo sợi tóc.

"Ôi cái thế giới của chúng ta," ông cảm thán, "Ôi cái thế giới này, Coda à."

Giờ là lúc Coda gật đầu. Con người ấy thở dài, khẽ cựa mình trên chiếc ghế gỗ gụ cũ kĩ.

"Đó là chuyện thường rồi," họ đáp lại, chỉ để chọc cười ông.

Có một đàn chim đang làm tổ bên ô cửa sổ trời. D.C cố gắng hướng sự chú ý vào hai con chim cổ đỏ trụi lông để khỏi phải bận tâm đến mớ hỗn độn gây ra bởi sự tồn tại trên đời của Coda. Coda cũng nhìn lên chúng, và tự hỏi liệu những tia laser an ninh có bắn chết chúng trước khi chúng kịp bay đi. Con người ấy đang dần chán nản, nhưng họ thừa hiểu không nên giục giã D.C ngừng nói những lời thừa thãi khi ông triệu tập những cuộc gặp mặt như thế này; đôi khi, D.C chẳng đi vào vấn đề nào cả, và họ chỉ có thể ngồi đó trong im lặng lắng nghe chiếc đồng hồ điểm từng giây báo hiệu giờ nghỉ trưa của họ dần cạn đi. Coda vẫn luôn cảm thấy những cuộc trò chuyện này thật nhàm chán, và thường hay chuyển hướng sự chú ý của mình sang những tình thế tiến thoái lưỡng nan chẳng bao giờ kết thúc phát ra từ trong tai nghe để giải trí hơn là vì bất kì mục đích gì.

D.C đặt tách trà xuống đĩa lót.

"Ta muốn cho ngươi biết một ý tưởng," ông nói "Và ta muốn ngươi nghe cho rõ đầu đuôi trước khi ngươi nói với ta là "không được"."

Coda nhướn mày. Trong lúc D.C ngắm nhìn lũ chim bên tia laser, đội quân ở Paris đã cố gắng kéo người đặc vụ kia xuống khỏi đường ngay giữa giờ cao điểm, nhưng lời đề nghị vừa rồi kích thích họ đủ để kéo tâm trí của vị chỉ huy trẻ tuổi hơn về lại với những gì đang diễn ra trong thư viện bụi bặm này.

D.C hít một hơi.

"Ta đang nghĩ đến việc tái khởi động chiến dịch Ichabod," Ông nói.

"Hừm. Không," Coda nói, nhấp thêm một ngụm trà.

"Nếu Sự cố Cornwall là thứ đang khiến ngươi bận tâm-,"

"Sự cố," Con người kia kiểm nghiệm lại cái từ ấy với một nụ cười nửa miệng đầy vẻ học thức, dò dẫm, "Ông biết mà, điều ấy luôn khiến tôi phải dằn vặt, cái từ sự cố ấy. 1,200 người bị đun tới chết không phải là sự cố. 1,200 người bị đun sống là một cuộc thảm sát. Người ta thường cho rằng bị thiêu sống là điều đau đớn nhất mà cơ thể người có khả năng chịu đựng, nhưng tôi đã tìm hiểu và chưa từng thấy qua bất cứ số liệu nào liên quan tới đun người trong thời hiện đại. Như thể chưa từng có ai nghĩ rằng đó là điều con người ta có thể làm với bất kì ai khác, chưa nói đến trên cả ngàn người. Tất cả những thông tin dính dáng đến đun người sống tới chết đều chỉ xuất hiện ở thời trung cổ. Đó là việc mà người ta chỉ làm với những tù nhân, để bêu riếu mà thôi."

"Để ta nói nốt đã, Coda", ông lên tiếng với tông giọng bình bình không mảy may động lòng, nhưng Coda vẫn cứ đặt ly trà xuống mặt bàn gỗ sồi và không ngừng lời, chẳng hề nao núng-

"Ông biết đấy, thứ âm thanh mà những con người bị đun sôi phát ra-", họ ngừng lại lựa lời, "-ông biết đấy, chết chìm thường không phải việc gì ồn ào. Người bị đắm thường ít khi dành khoảng thời gian ít ỏi còn lại của mình để kêu cứu mỗi khi ngoi được lên mặt nước, nên nhân viên cứu hộ nhìn chung thường chú ý tới chuyển động cơ thể hơn là tín hiệu âm thanh. Còn âm thanh của người bị thiêu sống thật sự rất khác. Đương nhiên, khi người ta bị thiêu trên cọc, người ta phải hét inh hét ỏi lên rồi-"

"-Coda-"

"Người có muốn một Cornwall thứ hai không?" Coda đáp lại, chẳng có lấy một tia bực dọc trong từng lời. "Bởi nếu người đã muốn một Cornwall thứ hai, thì tôi xin tuân lệnh. Tôi sẽ thiết lập ngay đường dây liên lạc khẩn cấp với đội ngũ xử lý sau sự cố của Tổ Chức."

Coda vốn dĩ chẳng hề nhận ra mình vừa đi quá giới hạn, nhưng điều ấy ập đến tâm trí con người này ngay khi căn phòng dường như hẹp lại, đẩy những tia laser và những cái bóng chúng tạo ra nhích lại gần họ từng chút từng chút một cho tới khi con người ấy thấy bản thân mình rúm ró quằn quại trước ánh nhìn của Fine. Ông đặt tách trà xuống và trong giây lát. Bụi li ti bỗng lấp đầy không trung. Họ chẳng biết chúng từ đâu ra nữa. Đây là một trò bịp bợm, tất cả những điều này - GOC không tồn tại từ lâu đời và cũng chẳng thông thạo mọi thứ, chẳng có thư viện hay kho lưu trữ nào là nơi tích tụ ánh dương, hay bụi, hay tro, hay hơi nước -

"Nếu như ngươi làm việc của mình cho đàng hoàng," D.C al Fine nói, "Sẽ không Cornwall thứ hai nào cả."

Người đặc vụ Pháp chết đi trong tai nghe của Coda. Cái thế giới này, vốn dĩ đã là như vậy rồi.


23 tháng Năm, 1989

"Anh nói thật đi," Cô lên tiếng.

Hai người đã hục hoặc với nhau suốt một tiếng rưỡi đồng hồ và Francis Wojciechoski đang quằn quại dưới sàn nhà tắm ngay trước mặt cô, nức nở khóc. Anh chẳng hiểu làm sao mình lại rơi vào bước đường này và cũng chẳng biết liệu mình có sống qua nổi ngày hôm ấy hay không. Đêm nay chỉ là một trong hàng bao đêm như thế, nhưng lúc bấy giờ cô đã lại thúc ép anh, phải đến cả triệu lần rồi-

"Anh nói thật đi!" Thân hình cô đang chặn trước cửa. Anh run sợ khi tưởng đến bất cứ việc gì cô sẽ làm trong giây phút ấy, nhưng anh mệt quá, mệt đến rệu rã rồi và máu lại đang chảy từ thân thể anh, và trong trí nhớ của anh toàn bộ chuyện này chưa gì đã lại bắt đầu ngay từ khi anh vừa tỉnh dậy và thấy trên người mình rỉ máu thêm lần nữa-

"Anh có biết cái gì là thật đâu, Lilly!" Francis thét lên, giọng anh lạc đi. Cô giờ lại là con quỷ lởm chởm những răng. Cô giờ lại là con dã thú với cặp sừng trên đầu, và điều đó đang làm anh khiếp hãi. Sự thật mà anh nói cô nghe vẫn luôn chỉ là thứ sự thật hoang đường, và trong một cuộc đời khác khi anh được nằm dài trên giường nhàn nhã vô lo trong một trại huấn luyện ở Siberia cách North Access hàng trăm ngàn dặm anh sẽ tự hỏi bản thân mình rằng phải chăng khi ấy cô giả câm giả điếc bởi chính cô cũng thấy ghê tởm trước những gì mình đã bắt anh chịu đựng. Phải chăng cô đã làm tất cả những điều này bởi cô thừa hiểu chuyện gì đang xảy đến với mình - chính cô, chứ không phải anh, mới là người đang trải qua cái quá trình thoái trào tới giai đoạn 4 rề rà và đau đớn, nên mới phải gắng sức duy trì sự chối bỏ hão huyền ấy? Phải chăng cô làm vậy để khủng bố tinh thần anh? Có thật là cô muốn anh đau đớn, hay nỗi đau ấy là cô dành cho chính mình? Phải chăng anh chỉ là một thứ phụ phẩm tạo ra bởi quả bom nổ chậm là cô? Tại sao cô lại chối bỏ… và tại sao cô lại bắt anh chịu đựng tất cả những điều này?

Trong mắt cô ánh lên nỗi sợ. Anh chỉ khát khao rằng nỗi sợ ấy hiển hiện bởi cô chợt nhận ra bản thân mình đã làm gì. Nhưng giờ đây anh không chắc về điều đó nữa.

"Anh là đồ dối trá," cô rít lên.

"Làm sao anh biết được em muốn anh nói em nghe cái gì chứ!" Francis vỡ òa, bởi suốt cuộc đời mình anh chưa từng thấy bức bối và sợ hãi đến nhường ấy, và trong anh dần nhen nhóm niềm tin rằng mình sẽ chẳng bao giờ phải lâm vào cảnh ấy thêm lần nữa. Anh gầm lên bằng tất thảy những mảnh vụn của lòng tự tôn và liêm sỉ còn sót lại trong mình, bằng tất cả những gì anh còn có thể bấu víu lấy bấy lâu nay để tự coi mình là một con người-

"ANH KHÔNG PHẢI ĐỒ DỐI TRÁ! ANH CHƯA BAO GIỜ NÓI DỐI EM CẢ, NÊN EM ĐÉO CÓ QUYỀN NÓI NHĂNG NÓI CUỘI VỚI ANH VỀ BẤT CỨ CHUYỆN GÌ ĐÂU!"

Và rồi anh sụt sịt khóc. Và buồng tắm lặng như tờ. Và Lilly lặng câm.

Và rồi cô khẽ nói, như những lời anh vẫn nghe trong bao giấc mơ và bao cơn ác mộng, rì rầm quanh những góc khuất của căn nhà anh sống, thoáng lướt qua trong bóng tối, một nỗi ngờ vực mịt mờ lẩn trốn trong tiềm thức anh và ám ảnh anh bằng cái dáng hình uy lực nhất, bây giờ và mãi mãi:

(bủa vây như làn nước dâng lên trong cơn lũ; bủa vây như nhiễu động trên chiếc máy bay rời tucson, arizona năm 1995)

"Anh nói thật đi-"


Hít sâu, thở đều. Bình tĩnh nào. Alto Clef, choáng váng thở dốc sau một cơn ác mộng, kẹp đầu gối lại hai bên tai để không ngất lịm đi khi nỗi khiếp đảm đương chiếm hữu cơ thể ông dần tan biến. Phải cần đến vài phút, nhưng sau cùng ông cũng trấn tĩnh lại được phần nào, dù lồng ngực ông vẫn còn nhói lên vì hoảng loạn. Ông đã quá già để chịu đựng chuyện quái quỷ này rồi. Có khi cơn ác mộng tiếp theo sẽ giết quách ông đi cũng nên, ông nghĩ mà đắng lòng. Toàn bộ chuyện này giờ chỉ thật ngu ngốc - đã 30 năm trôi qua kể từ ngày ấy. Ông tự trấn an bản thân rằng tất cả đã qua rồi; ông có một danh tính mới, một công việc mới, và điều quan trọng nhất là chẳng ai mảy may hay biết bất cứ điều gì về ông của ngày xưa. Họa hoằn có ai biết tới, thì cũng chưa ai tìm đến ông mà gợi chuyện, nhất là khi đó chính là nỗi sợ hãi lớn nhất đời ông.

Ông vẫn an toàn. Và chừng nào ông còn tỉnh táo, ông biết rõ mình vẫn an toàn. Đây là một trại huấn luyện của Tổ Chức tại Siberia, và ông đang sống ở tòa nhà trung tâm của nơi này; nếu có ai xuất hiện ở đây không một lời báo trước, tất cả những người khác sẽ được báo động ngay tức khắc. Cơ sở chính lại cách đây chưa tới một dặm đường. Có đủ xe pháo được đặt giữa hai địa điểm ấy để đánh sập nơi đây thành cát bụi ngay khi họ cần, còn đối với những tổn thương tâm lý, với nỗi sợ phải chịu đựng sự bạo hành như thế thêm lần nữa - thì, ông đã, đang và sẽ không bao giờ cho phép bất cứ ai tới gần mình đủ để thử lấy một lần.

Nên mọi chuyện đều ổn. Không, tất cả thật tuyệt, phải công nhận là vậy. Alto không tin mọi chuyện còn có thể tốt đẹp hơn thế nữa. Tất nhiên, căn bệnh PTSD thật khiến ông phải kiệt sức, và Tổ Chức chỉ đang xe cát dã tràng khi vẫn tiếp tục đánh giá và thẩm vấn ông hàng năm; không có cả hai thứ ấy, ông vẫn ổn thôi. Nhưng còn Cornwall? Vụ đó đã trôi qua từ rất lâu rồi.

Đúng vậy, Alto Clef nghĩ khi ông bật nút "bắt đầu" phát bộ phim Animal House7, thứ đã hiện sẵn trên màn hình máy tính xách tay của ông dành cho những đêm thế này khi tiềm thức ông chẳng thể nào yên nghỉ; Cornwall với ông chưa bao giờ xa xôi đến thế. Và ông vẫn an toàn.

Và đời vẫn ổn.


Ở mạn bắc một buồng quản thúc dưới nước đâu đó giữa thái bình dương, 2005

Neo hằng thực mang mã hiệu #4,345 của Tổ Chức chẳng thể nào nhớ rõ từ bao giờ mình thức tỉnh. Đối với nó, có lấy dù chỉ một ý niệm về thời gian đã thật khó khăn thay. Gần như bất khả thi, thực sự là vậy.

Nó chỉ thấy được mình đang dập dềnh trôi hàng nối hàng bên vài neo hằng thực khác - nó có thể cảm nhận chúng lảng vảng dạt trôi quanh mình chỉ ngay ngoài tầm tay với mà thôi. #4,345 tự hỏi phải chăng chúng cũng có tri giác y như nó, và giả như chúng cũng đã thức tỉnh, liệu chúng có nhớ chút gì về cách chúng tới được đây và chúng có việc gì để làm ngoại trừ an định thực tại này. Dù sao thì, nó đã ở đây bao lâu rồi? Trước khoảnh khắc này, nó là gì - trong luồng chảy hiện thực ban sơ và đen tối đang chảy qua con mắt thứ ba của nó?

Thời gian trôi đi, và #4,345 đã dần nhớ lại đôi ba điều về quá khứ của chính mình. Nó đã chẳng hề dành cả cuộc đời nó ở nơi này, dập dềnh trôi nổi giữa làn nước cách thềm lục địa tầm đâu 5 mét và chiều không gian Hume thứ tư bao lấy nó. Đôi khi #4,345 còn mang trong mình linh cảm rằng nó từng là một phần của thứ gì đó lớn lao hơn cả vũ trụ mà nó có thể cảm nhận bằng tiềm thức. Nó chẳng được ban cho khả năng suy nghĩ sâu xa, và chỉ trăn trở về những chuyện ấy đôi lần mỗi tháng trước khi mệt nhoài và quay trở lại dập dềnh trong xiềng xích như thường lệ - nhưng vài năm đã trôi qua, và nó đã nặn được thành hình một ký ức lẻ loi.

Nó nhớ một ngôi nhà.



@
@
@


@
@
@

Unless otherwise stated, the content of this page is licensed under Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License