[BỊ XOÁ THEO GIAO THỨC 4000-ESHU]
đánh giá: +18+x

.

TabooWarningfix.png
TabooWarningfixMobile.png

Up-in-the-Air_Gabriela-Pinto_CC2_edited2.jpg

Ảnh 1.1. Một thực thể hình người bản địa đang thị hiện giữa không trung.


Mã vật thể: Bị hạn chế theo giao thức 4000-Eshu.

Phân loại: Keter

Quy trình Quản thúc Đặc biệt: Địa điểm ngoài chiều không gian được mô tả bên dưới cũng như các thực thể và địa danh bên trong nó là các danh pháp độc (Loại Eshu), vì thế không thể được gọi bằng bất kì tên, danh hiệu hay tên được chỉ định nào. Chỉ có thể sử dụng các mô tả khi nhắc đến khu rừng nằm ngoài không gian tiêu chuẩn và các thực thể bản địa. Mô tả phải bị thay đổi mỗi lần chúng được nhắc đến. Mô tả có thể được mã hoá bằng màu cho rõ ràng,1 và ngôn từ hoa mỹ có thể được sử dụng để tạo nguồn danh pháp đa dạng.

Trong trường hợp xảy ra vi phạm danh pháp, giao thức tái quản thúc Loại Eshu tiêu chuẩn phải được thực hiện ngay lập tức bởi cá nhân chịu trách nhiệm về vụ vi phạm. Nếu cá nhân đó không thể thực hiện thủ tục này, trách nhiệm sẽ thuộc về người thân gần nhất của cá nhân đó.

Nếu cá nhân chịu trách nhiệm về vụ vi phạm không có người thân, danh tính của người đó sẽ bị xoá khỏi mọi tài liệu và hồ sơ hiện có; bất kỳ cá nhân nào khác có cùng tên sẽ được cho dùng thuốc lú Cấp G và chỉ định một tên mới.

Theo Lệnh O5-4000-F26, ít nhất một cuộc thăm dò thành công vào đất rừng nguy hiểm và lạ kỳ phải được thực hiện hằng năm để theo dõi mọi sự thay đổi dị thường. Do rủi ro cao đến từ việc truy cập vào vùng đất không tên, nhân sự được giao nhiệm vụ nghiên cứu phải được đào tạo theo Giao thức Thăm dò Tiêu chuẩn được nêu chi tiết trong 4000-SEP.

Tài liệu trái phép đề cập đến khu rừng bên trong ống khói phải bị thu hồi và xử lý theo giao thức quản thúc thông tin tiêu chuẩn. Cá nhân có kiến thức trái phép về Quy trình 4000-Halloway phải được cấp thuốc lú2 và có thể được trả tự do sau khi hồi phục.

Mô tả: SCP được đề cập là một khu rừng ngoài chiều không gian có nhiều đặc tính dị thường, bao gồm một hiện tượng danh pháp độc nguy hiểm. Địa điểm dị thường này có thể được truy cập thông qua Quy trình 4000-Halloway (xem tài liệu DOC-4000-H). Sau khi thực hiện quy trình, các đối tượng sẽ thoát ra từ một chiếc giếng gạch đổ nát được cố định với nền rừng (xem Ảnh 1.2).

Lối duy nhất để đi qua địa thế khác thườngmột con đường đất duy nhất. Các đợt thăm dò tách khỏi hành trình định sẵn sẽ ngay lập tức dẫn đến mất liên lạc hoàn toàn. Con đường an toàn duy nhất chỉ có thể đi theo một hướng, bất kỳ nỗ lực quay trở lại hướng đến đều dẫn tới việc mất liên lạc tương tự.

Thế giới không tên không bị ràng buộc bởi các quy luật trong không gian tuyến tính. Các nỗ lực vẽ bản đồ dẫn đến việc ghi lại rất nhiều tuyến đường khác nhau trong mỗi đợt thăm dò và các đoạn của lối mòn bắt buộc không chồng lên hay giao nhau theo logic thông thường.3 Một điều nhất quán là điểm truy cập luôn nằm ở hai đầu của đường cái.

Sau khi bắt đầu hành trình, lối an toàn duy nhất để rời khỏi rừng rậm không tên là đi qua toàn bộ chiều dài của nó và trở lại nơi họ bắt đầu ở đầu bên kia.

Nhiều dị thể có nguồn gốc từ hệ sinh thái vô danh đã được ghi nhận. Các thực thể bản địa thường trải qua những biến đổi vật lý khi không được quan sát, dẫn đến các nghiên cứu viên gặp khó khăn trong việc xác định rằng đâu là một thực thể độc nhất và đâu là một phiên bản mới của một thực thể đã từng được ghi nhận. Các thực thể cho rằng chúng không làm chủ được những biến đổi này và tỏ ra khó chịu khi chúng xảy ra.

Các thực thể bản địa gây trở ngại trên đường mòn, khiến cho đối tượng phải tương tác với chúng để có thể vượt qua. Các thực thể bản địa thường có trí thông minh cao và tính khí thất thường, nhưng vẫn có thể tương tác an toàn nếu tuân thủ các biện pháp phòng ngừa trong 4000-SEP .4 Hậu quả của việc vi phạm các biện pháp phòng ngừa tuỳ thuộc vào tính cách của thực thể: hậu quả mà các nghiên cứu viên gặp phải bao gồm bị quở trách bằng lời nói, hành vi bạo lực và sự biến đổi dị thường về tính chất vật lí, khái niệm và tên gọi của đối tượng.

Nhiều dị tượng khác nhau có thể xảy ra khi một danh pháp nhất quán được đặt cho lãnh địa không thể đặt tên, các thực thể bản địa và địa danh của nó. Những hiện tượng này vẫn chưa được hiểu rõ, một phần là do việc cấm thử nghiệm theo Lệnh O5-4000-F26.

Các dị tượng về danh pháp được ghi nhận bao gồm:

  • Đau đầu từng cơn khi tiếp xúc với danh pháp bị ảnh hưởng.
  • Gặp ảo giác về thị giác và thính giác, thường có liên quan đến môi trường hoặc thực thể được mô tả bằng danh pháp. Trong một số trường hợp, ảo giác về vị giác và khứu giác cũng đã được ghi nhận.
  • Đột ngột khởi phát chứng mất trí tâm lý.
  • Phát triển các đặc điểm cơ thể không phải của con người, chẳng hạn như lông vũ và bao phấn.
  • Sự phát triển của các thành phần hữu sinh trong môi trường vô sinh, nơi danh pháp được ghi lại.
  • Đối tượng tiếp xúc bị dịch chuyển đột ngột đến hoang địa của những thứ không tên mà không cần thông qua Quy trình 4000-Halloway.
  • Sự xuất hiện của các loài thực vật khác nhau bên trong không gian kín nơi danh pháp được sử dụng.
  • Các thực thể bản địa đột ngột dịch chuyển đến nơi danh pháp được sử dụng.
  • Sự đồng hoá sinh học giữa đối tượng và thực thể bản địa.
  • Sự đồng hoá sinh học giữa thực thể bản địa với không gian nơi danh pháp được sử dụng.
  • Chứng thiếu sắt trầm trọng ở đối tượng tiếp xúc, nhưng không để lại di chứng nghiêm trọng như thông thường.

Lệnh O5-4000-F26 đã được Hội Đồng ban hành vào năm 1954. Một sửa đổi vào năm 1970 yêu cầu O5-4000-F26 phải được Hội Đồng nhất trí thông qua mỗi 10 năm để có hiệu lực. Đến nay, chưa có biên bản ghi nhớ nào của Hội Đồng liên quan đến O5-4000-F26 được công bố cho các cấp độ an ninh thấp hơn.


.


.

.


.

.


.

.


.
Nếu không có ngoại lệ được nêu, nội dung của trang này được xuất bản dưới giấy phép Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License