Chàng Trai Trẻ
rating: +5+x

Không ai có thể nói là họ thích Hạ Sĩ Lawrence. Không hẳn là không ai đã cố làm thân với anh ấy, hay là anh ta không được thân thiện với mọi người, chỉ đơn thuần là anh ta thuộc một trong số ít kẻ được cho là bị "lên dây" một cách khác biệt so với người thường. Tuy nhiên, trong những năm tháng của chiến tranh dưới hầm hào của Thế Chiến 1, sự bình thường của một người lính chỉ là một khái niệm mang tính tương đối, và cả những thứ có liên hệ nhỏ nhặt tới khái niệm của cuộc sống, hoặc như là nó đã từng thế. Lawrence chiến đấu, tuân thủ mệnh lệnh, và không quấy rầy những người lính khác, và nhiêu đó đã đủ tiêu chuẩn cho một người lính. Vậy tại sao mọi người lại ngày càng cảm thấy không thoải mái khi ở gần anh ta? Ở nơi mà từng miếng thịt hàng ngày rơi ra khỏi xương của bạn trong khi bạn vẫn còn đang hít thở được cho là một vấn đề khá bình thường, thì nhân cách của một người lính còn chẳng đáng để tâm hơn là một vết xước trên đầu ngón tay.

Đối với Lawrence, anh ấy xử lý nó bình thường như mọi người khác. Hơn thế nữa, anh ta hoàn toàn không bận tâm tới việc mọi người xa lánh anh. Y như cái cách một người mù từ lúc mới chào đời không bao giờ than thở về việc không thể nhìn thấy vẻ đẹp của màu sắc, Hạ Sĩ Lawrence chưa bao giờ than thở về việc anh ta không có bạn đồng hành. Anh ta thuộc tuýp người im lặng, như thể là chưa từng nói chuyện với ai, mặc dù anh ấy không có gì để làm do đã ở trong chiến hào quá lâu. Còn chiến hào phe địch, cách đây khoảng một dặm, im như tờ đã được vài ngày, nó càng làm gia tăng thêm sự buồn chán và lo lắng hơn cả lúc đang giao chiến… Cộng thêm cái bầu không khí "khác người" lan ra từ Lawrence như một làn sóng tỏa ra khắp mọi nơi.

Điểm tệ nhất chính là không hề có một lý do đặc biệt nào để ghét Hạ sĩ này cả. Anh ấy là một người đơn giản, chiều cao trung bình, vóc dáng trung bình, giọng nói ôn hòa và hành động bình thường. Không ai từng trông thấy anh lên giọng với ai hay tức giận về việc gì. Tuy vậy, anh ta thỉnh thoảng vẫn có vài thói quen khá cầu kì. Lawrence thường sẽ nhìn chằm chằm người khác khoảng một hay hai phút liền. Anh ấy cũng hiếm khi ngủ, và bạn cùng phòng ngủ với anh cũng nói rằng anh ta lẩm bẩm trong lúc ngủ gần như vào mọi lúc. Những lời nói của bóng tối đó khi được lắng nghe sẽ thường rất lạ, thậm chí kinh dị. Một binh nhì nọ đã xin chuyển sang doanh trại khác do một đêm anh ta đã nghe thấy tên con gái của mình phát ra từ miệng của Hạ Sĩ Lawrence, và theo sau đó là tiếng cười khúc khích bị bóp méo.


Mọi người đưa ra giả thuyết, khả năng cao là anh ta đã bị chỉ huy của mình gửi tới chiến hào chỉ để tống khứ anh ta, chứ không phải là vì kĩ năng chiến đấu thuộc hạng trung của anh ấy. Anh ta cùng với mười bốn đồng đội của mình đã được giao nhiệm vụ phải băng qua vùng đất ác mộng của cái chết ở giữa chiến tuyến của 2 phe, với mục đích là thăm dò, và chiếm giữ khu vực nếu có thể. Nhiều người có vẻ như rất mong chờ sự kiện này như là một cơ hội để Lawrence chứng minh sự cống hiến của mình cho đất nước và hi sinh một cách anh dũng.

Trong lúc Lawrence vắng mặt, trong khoảng thời gian 3 ngày, họ nín thở, chờ đợi một đợt pháo công kích bất ngờ, rồi ai đó đã đặt vài câu hỏi. Không như lúc trước, việc nhắc đến Hạ Sĩ Lawrence là một điều cấm kị, còn hiện tại, nhờ có sự vắng mặt của Lawrence và 'hào quang' của anh ấy, các tin đồn tuôn trào ra như một sự chối bỏ. Chưa ai từng nghe anh kể về quê nhà mình. Không hề có bức thư đầy mùi hương ngọt ngào nào được gửi tới, cũng không hề có những lá thư ướt sũng và dính đầy mùn đất nốt. Anh ta chỉ thường hay kể về các giấc mơ, và thắc mắc vài lúc về phần ăn bị thiếu của mình cùng với sự thỏa mãn, ngoài ra, không có bất kỳ yêu cầu nào khác.

Những câu hỏi này thậm chí còn trôi nổi lên cả bộ phận chỉ huy cấp cao. Không ai có thể tìm thấy đơn vị đóng quân cũ, hay lệnh chuyển đơn vị của anh ta đâu. Anh ấy được gửi tới cùng với một tổ đội viện trợ từ Pháp… Tuy nhiên không hề có giấy tờ nào ghi chép về nó cả. Ngay cả đội viện trợ cũng chưa từng biết đến người đàn ông này, cho tới khi anh ta nhảy lên cùng chuyến với họ đêm trước khi họ bắt đầu hành trình cùng với khẩu súng ngắm và vài phụ kiện cũ của những đồng đội đã ngã xuống của mình. Những lời đồn thổi và câu chuyện được truyền tai nhau bởi các tên lính mới xem Hạ Sĩ như một lời nguyền. Gần như tất cả những đồng đội cùng doanh trại với anh ta đều bị bệnh trenchfoot, và căn phòng mà anh ta đang ám có vẻ như ngày càng mốc meo và dơ bẩn, ngay cả ở một nơi tồi tệ như dưới chiến hào.


Những người được gửi tới vùng đất chết cùng với Hạ Sĩ Lawrence cũng đã nghe về tin đồn nhưng chẳng hề bận tâm. Với họ, anh ta cũng chỉ là một người lính khác, một người lính như họ, những người lính đã được chuẩn bị sẵn giấy báo tử cùng với cái máy dập tem luôn chực chờ để in và gửi về nhà họ bất cứ lúc nào. Họ di chuyển nhanh chóng và âm thầm, từ hố bom này lẩn sang hố bom khác, trườn bò qua nền đất đầy bùn và kẽm gai, chúng là thứ duy nhất có vẻ như trụ vững được trong vùng tử địa này. Họ xông pha vào cứ địa của địch, chờ đón một loạt đạn cùng với những tiếng báo động của lính Đức… Nhưng không. Những gì chờ đợi họ là một khung cảnh im lặng đến ghê người. Chuẩn bị tinh thần cho một cuộc phục kích, họ nhảy xuống những đường hầm và hào chống bom.

Những người lính, đang lo sợ đã không khỏi sửng sốt trước phát hiện của họ. Bên dưới chiến hào là nấm mốc, mồ hôi, và hương nhạt của trái cây thối. Cùng với một chất dịch, thứ dịch bầy nhầy, nhớp nháp này bao phủ tràn ngập nền đất và từng khe rãnh của chiến hào, chúng dính như keo và gây ngứa khi để bị dính vào da. Trong cái thế giới mà chuột và côn trùng sẵn sàng bay tới và xé rỉa miếng ăn ngay trên miệng bạn, thì cảnh tượng họ thấy ở đây là một vùng đất chết, không có bất cứ thứ gì chuyển động, thậm chí không lấy nổi một con ruồi. Khung cảnh của một kho vũ khí như đã từng tràn ngập trong sự hỗn loạn, vỏ đạn rơi đầy mặt đất, súng ống bị vất ra sàn như những khúc cây chết. Thứ từng là hành lang tới kho vũ khí giờ chỉ còn là một căn phòng tang hoang, bàn ghế bị xếp chồng chất vào giữa căn phòng, chúng đã bị bóp méo và siêu vẹo. Thức ăn dường bị lún vào nền đất như là có hàng chục người dày xéo lên. Tuy vậy, nhưng không có một thứ gì còn sống, hay đã chết được tìm thấy bởi những người lính đang tràn ngập trong sự lo sợ.

Binh nhì Dixon là người tìm ra cái xác đầu tiên và đã thét lên trước khi bắt đầu nôn mửa.

Họ biết chắc rằng đó là xác của một con người vì không có một thứ gì với kích thước như thế có thể xuất hiện tại đó. Cái xác nằm trên sàn của doanh trại. Toàn bộ sàn nhà, da thịt của cái xác đó trải đều khắp cả nền đất, bằng một cách nào đó, đã được dàn đều ra cả cái sàn đất như bơ phết lên bánh mỳ. Xương lỗ chỗ và bị thối rữa, đâm xỉa ra từ những góc ngẫu nhiên, như là những cái cây chết khô trong đầm lầy. Hộp sọ của nạn nhân xấu số nằm trên đỉnh đầu của một chiếc giường, hướng ra ngoài cửa chính, mười ngón tay từ đôi bàn tay chỉ còn xương trắng hếu bị đâm thẳng vào sâu trong hốc mắt của nó. Một người trong số họ đã khám nghiệm cái đầu lâu, anh ta phát hiện ra phần sau của hộp sọ đã bị đập nát, và bên trong là một cái lưỡi bị nấm mốc, bốc mùi và đang phân hủy.

Họ đã tìm thấy nhiều thi thể hơn, cứ mỗi cái được tìm thấy lại kinh hoàng và dị hợm cái trước. Họ tìm thấy một chuỗi các bàn tay được gắn với nhau trong cái tháp canh bằng bao cát, tổng cộng có 10 bàn tay, ngón tay bị đan dính vào nhau như một cái rổ, tất cả đều bị bẻ gãy và cắt tử phần cổ tay. 2 người lính khác cũng được tìm thấy trong một đường hầm, da của họ mỏng như xác ướp, hốc mắt trợn trắng và trống rỗng, miệng toác ra ở một vị trí mà dường như không thể, quần áo của họ chỉ là một đống giẻ bị nhàu nát trộn với thứ dịch nhầy đen. Nhà xí là một cảnh tượng còn kinh khủng hơn nhiều, họ lẩm bẩm và run rẩy. Nơi này tràn ngập mùi phân và chất thải, từng tảng thịt trôi nổi và rỉ ra từ các ống cống… Toàn bộ bề mặt của nhà xí đều lổm ngổm các chấm trắng trông như hàng ngàn con mắt, dây thần kinh và dây chằng đâm chìa ra như đuôi của cá vàng.

Corporal Lawrence was the first to find the hole, the other men loudly debating the better part of valor and their rapid withdrawal from the nightmare trench. It was small, in a section of fresh digging, the start of a new arm of trenches projecting closer to the enemy lines. No more than four feet across, it seemed to be the accidental uncovering of a natural chamber, the empty blackness of it defying investigation. Private Dixon, recovered and blessedly numb from his previous ordeals, saw the corporal prod the edge with his boot, then crouch to peer in…then suddenly slide in head-first before the private could so much as utter a shout of question.

Hạ Sĩ Lawrence là người đầu tiên tìm ra cái lỗ ngầm đó, những người khác thì đang tranh luận khá to tiếng về lòng quả cảm của mình và về việc rút lui khỏi chiến hào ác mộng này. Căn hầm này khá nhỏ, các vết đào trông vẫn còn mới, nhánh thông của căn hầm này có vẻ như sẽ dẫn thẳng sâu tới phòng tuyến của đối phương. Rộng chỉ vỏn vẹn 4 thước, có vẻ như vô tình được hình thành từ các hố ga, bóng tối sâu thẳm của nó làm mọi người từ chối điều tra sâu hơn. Binh nhì Dixon, vừa bình phục và hoàn thành công việc trước của anh ta, đã thấy Hạ sĩ đạp chiếc ủng của mình vào một góc căn hầm để ló đầu xuống… Rồi đột ngột đâm đầu xuống căn hầm sâu thẳm, trước khi Binh nhì kịp hoàng hồn, để lại anh ta tràn ngập các trong sự bối rối. Binh nhì là một người lính tốt, anh ấy ngay lập tức chạy đến tìm sự trợ giúp từ các đồng đội. Khi được hỏi sau đó, anh không thể kể được gì nhiều từ sự việc đã xảy ra sau hơn 2 phút Hạ Sĩ Lawrence đã ở trong cái hố đó. Anh ấy hoàn toàn không thấy được gì, ánh sáng từ ngọn đuốc chỉ soi sáng được vài thước vào màn đêm sâu thẳm. Có một vài âm thanh… Tiếng kêu loạc xoạc của thứ gì đó qua kẽ của những viên đá và đống đổ nát. Chất dịch nhầy kì quặc đã bắt đầu di chuyển, tiếng loạc xoạc đó làm anh nhớ đến tiếng lột xác của côn trùng mà anh thường hay bắt thuở nhỏ vào lúc hè. Ngay khi anh ta thét lên yêu cầu trợ giúp, anh ta cảm thấy mùi hôi thối nồng nặc sộc thẳng vào mũi mình, như là một cái hang của bò sát đã sụt lún và cũ kĩ. Đồng đội đã tìm thấy anh vươn tay ra một cách bất lực ở bên kia của cái hố.

Ngay lúc họ chuẩn bị kéo Binh Nhì Dixon lên từ miệng hố. Họ dừng tay và nâng súng lên chĩa thẳng vào anh, một cơ thể nhợt nhạt đang gào thét, Dixion thì đang run rẩy để giúp họ nhận diện anh. Một cánh tay khác đã trồi lên, kéo theo sau là một hình dáng trắng nhợt nhạt, run rẩy của Hạ Sĩ Lawrence. Cơ thể anh ta bị bao phủ đầy những chất dịch đen, và đã ho nhẹ vài tiếng trong lúc tự kéo bản thân mình lên, cùng với gã Binh nhì. Khi đồng đội của họ đến để giúp đỡ, Hạ Sĩ ói ra cả một dòng chảy dày đặc các chất dịch đen, có vẻ là cùng loại với thứ dịch bầy nhầy đang bao phủ cả cơ thể của anh ta, cái cơ thể hấp hối và quằn quại đó tiếp tục nôn mửa ra nhiều thứ dịch đó hơn nữa, làm bạc màu cả quần áo của anh ấy. Không ai dám động vào anh ta, cho tới khi dòng chất dịch như là vô tận đó dừng đổ ra từ miệng của Hạ Sĩ. Anh ta bất tỉnh, mắt trợn trắng tròng và cơ thể thì mềm rũ như là một con cá chết.


Những chàng lính tháo chạy khỏi chiến hào ma quỷ ấy với toàn bộ tốc lực của mình. Kéo lê theo gã Hạ sĩ, họ chạy mà không màng trời đất, không tìm chỗ trú hay suy nghĩ gì nhiều, suy nghĩ duy nhất của họ chỉ còn là chạy thoát. Họ đã có thể về đến chiến hào của mình với thời gian nhanh kỉ lục, họ ngã lăn ra, thở dốc và run rẩy. Một người trong số họ, với danh tiếng là đã đập một tên lính Đức đến chết bằng một viên gạch giờ đang nằm co ro dưới sàn khóc sướt mướt. Các viên chỉ huy đã tới nhanh chóng, cách ly những người lính và cố gắng trấn tĩnh người còn tỉnh táo nhất để họ báo cáo tình hình. Tuy nhiên những lời nói ra từ miệng họ đã ngay lập tức bị cho là những lời nói dối, hoặc là những ảo giác gây ra do mệt mỏi, áp lực từ chiến trường, và có thể là các loại khí ga tác động đến thần kinh đang được thử nghiệm… Và rồi cả 2 bên đều im lặng, bọn họ đưa mắt nhìn nhau trong khi đang ổn định lại tinh thần.

Hạ Sĩ Lawrence không báo cáo gì nhiều. Trong khoảng thời gian anh ta ở dưới hố, anh ấy cũng không kể được gì nhiều vào lúc đó. Anh nói mình đã bị trượt chân và lao thẳng xuống một thứ có vẻ như là đường ngầm lớn, hoặc có thể là một phòng của nhà xí đã bị sụp xuống. Còn về âm thanh và mùi ở đó đã được báo cáo bởi Binh Nhì Dixon, anh ấy không bình luận gì, chỉ nói rằng đã chật vật trong một lúc, trước khi thoát ra được khỏi đường ngầm ngay khi các đồng đội của mình tới giúp. Nói thật ra, anh ấy nhìn không tệ đi chút nào từ lúc đó, nữa là còn thấy tinh thần phấn khởi hơn vài ngày trước. Anh ấy đã chào những viên chỉ huy cấp trên bằng một nụ cười to và rộng khi đã được cảnh báo là không đề cập tới sự kiện này một lần nào nữa.

Vài ngày sau, Hạ Sĩ đã trở thành một người đàn ông khác hoàn toàn . Anh ấy nói nhiều hơn, nhưng dần dần mọi người cầu mong cho cái không khí im lặng bất thường của anh ta trở lại. Anh ấy luyên thuyên về sự thích thú khi bị nhốt trong không gian hẹp, về sự sáng tạo và hủy diệt, và cả những chủ đề xoay quanh chúng. Lảm nhảm về sự sung sướng của con người chưa thể cảm nhận được, về những chiều không gian và tuổi tác, đến nỗi vài người đã đe dọa và cầu mong Hạ Sĩ Lawrence chết một cái chết cô đơn, đau đớn và đầy nhục nhã… Câu nói đó chỉ làm gã Hạ Sĩ kéo dãn nụ cười quái đản của hắn ta dài và rộng hơn nữa. Binh nhì Dixon, một trong những đồng đội cùng doanh trại với Hạ sĩ đã nói nhỏ với một người bạn của mình rằng một đêm nọ anh đột nhiên thức dậy và nhận ra gã Hạ sĩ đã đứng đối diện và nhìn chằm chằm anh từ lúc nào, với cặp mắt của gã sáng và dẹt như một đồng xu lấp lánh. Ngày hôm sau, họ đã tìm thấy thi thể của Binh nhì bị quấn chặt vào hàng rào gai, cùng với ruột gan bị bung ra hơn 3 mét từ khắp mọi hướng.


Không một ai từ chiến hào này sống sót trở về, tuy không nhiều người chết trong chiến trận. Một làn sóng bệnh dịch đã nuốt chửng chiến hào vài ngày sau cái chết của Binh nhì Dixon. Một loại dịch bệnh ăn mòn kì lạ, nó ăn da thịt của họ như acid, những người lính mới hôm trước còn khỏe mạnh đã thức dậy với phần thịt của mình bị ăn sâu tới tận xương, hoại tử và rỉ dịch đen. Một trung sĩ đã được tìm thấy trong nhà xí, thi thể anh ta tràn ngập trong một tấm thảm dầy đặc của chuột. Lũ chuột không chịu buông tha cái xác ngay cả khi bị bắn, và đã tấn công vài người trước khi cái xác được di dời và chôn cất tử tế. Hi vọng cuối cùng cũng tới với họ, những người lính xấu số đã được chuyển tới nhiều bệnh viện khác nhau. Nhưng nhiều người đã chết trước khi họ có thể tới được giường bệnh.

Hạ Sĩ Lawrence đã được chuyển tới một Bệnh viên tâm thần của Pháp sau một bệnh viện đã từ chối nhận anh ta vì một vài lý do liên quan tới tâm lý. Có vẻ như các hành vi của anh ta gây ra do tinh thần bất ổn, đỉnh điểm là anh ấy đã cố tấn công tình dục một y tá, làm cô ta bị mất ba ngón từ bàn tay phải, và chọc mù mắt phải của cô ta. Gã ta còn đột nhập vào phòng của những bệnh nhân khác, thì thầm về những hành lang vô tận, sự săn đuổi trong bóng tối, máu thịt thì rải đều ra như những trang sách. Các hành vi này đều được cho là những áp lực gây ra do cuộc chiến quá căng thẳng, tuy hành vi của anh ta đã ít bạo lực, nhưng kì quái hơn.

Anh ta cũng đã đột ngột biến mất khỏi viện vài lần, rồi lại xuất hiện vài giờ sau đó như chưa có gì xảy ra. Khi được thẩm vấn, anh ta sẽ bắt đầu hát bài “Bonnie Của Tôi Nằm Ở Bên Kia Đại Dương” trong một khúc ngân nga vô tận cho tới khi bác sĩ bỏ đi trong sự bực bội. Những bệnh nhân cùng viện đã cầu xin được chuyển tới nơi khác để tránh xa khỏi gã điên thích thì thầm. Một mùi mốc thối, dơ bẩn có vẻ như đi theo gã bất cứ nơi nào hắn mò tới, và những báo cáo về các trường hợp nhiễm trùng, một loại bệnh dịch ăn mòn kì lạ đã được tìm thấy ở chiến hào của gã, có vẻ như căn bệnh này đã đi theo gã như một đám mây. Nhiều cố gắng đã được thực hiện nhằm chuyển người đàn ông này sang cơ sở khác, tuy nhiên đều thất bại do sự mập mờ về danh tính. Không một ghi chép nào có đề cập về gã ta. Không giấy phép thông hành, không giấy nhập ngũ, hắn còn không có cả giấy khai sinh. Trong lúc đó, hắn ta chỉ ngồi chờ, ngân nga hàng giờ, thỉnh thoảng lại gác chân lên giường, và đôi khi lại lảm nhảm về tên của những đồng đội cùng doanh trại cũ của mình.

Hạ Sĩ Lawrence và mười tám người khác đã biến mất trong một đêm tháng mười hai, trong lúc đổi ca trực y tá 5 phút vào khoảng 3 giờ sáng. Căn phòng của họ đầy vết hoen gỉ, nhớp nháp, đầy mùi nấm mốc và phân hủy. Hàng mớ chất dịch đen đã hoàn toàn bao trùm lấy những chiếc giường và vài bức tường xung quanh. Còn những bệnh nhân có vẻ như đã hoàn toàn mất tích vào lúc đầu. Khi họ bắt đầu tìm kiếm, một y tá đã đẩy một chiếc giường sang một bên rồi thét toáng lên rồi suýt vấp ngã. Trong góc giường chật hẹp là một vòng xoắn ốc hoàn hảo đầy những thứ có vẻ như là hàng trăm chiếc răng, nằm trên sàn nhà. Sau khi đã đếm xong, họ đã tính toán toàn bộ số răng đó là của những người đã mất tích, tất cả bọn họ… Trừ một người.


Hạ sĩ Lawrence vẫn chưa được tìm thấy cho tới nay, và cả những người mất tích cũng thế. Sự kiện bi kịch này bị nuốt chửng rồi lãng quên bởi sự công kích kinh hoàng của chiến tranh ngoài mặt trận. Tuy vậy, nhưng những câu chuyện về một chiến hào bị nguyền rủa vẫn trôi nổi ngoài chiến trường, thường được kết luận là do "vận xui". Nhưng dù thế, những câu chuyện mới vẫn xuất hiện… Câu chuyện về những cái chết kỳ lạ, các trường hợp những người lính mất tích bí ẩn, và được tìm thấy vài ngày sau đó, tuy vẫn còn sống nhưng ý chí đã bị đập nát và tinh thần của họ bị phá hủy tới mức không thể cứu vãn. Và cả những câu chuyện về một hình bóng hắc ám, đen tối, lặng lẽ theo dõi những thị trấn bị tàn phá bởi bom ở Châu Âu.

Bức ảnh này là hình ảnh duy nhất của Hạ Sĩ Lawrence còn sót lại, được chụp vài ngày sau khi anh quay trở lại từ cái hố được tìm thấy trong chiến hào của Đức

the%20old%20man%2C%20young
Unless otherwise stated, the content of this page is licensed under Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License