SCP-045-INT


đánh giá: +5+x

Ghi chú: Cấp D trong tài liệu này, nếu không được nêu rõ, được dùng để nói tới "Phạm nhân Chiến tranh Cấp D, tránh nhầm lẫn với Nhân sự Cấp D.

Mã vật thể: SCP-045-INT

Phân loại: D

Thi hành án Phạm nhân Đặc biệt: Do toàn bộ phạm nhân Cấp D đã hoàn thành nhiệm vụ phục vụ cho Tổ Chức, SCP-045-INT hiện được lưu trữ và phân mục này không còn được áp dụng.

Vào tháng 8/1946, Tòa án Quân sự Dị thường Quốc tế khu vực Viễn Đông, hay còn được biết đến với tên Tòa án Đài Bắc, đã mở phiên tòa theo quy định pháp lý đặt ra trong Hiệp định Nagoya. Được thành lập để truy tố cá nhân phạm tội vào thời điểm Chiến tranh Thái Bình Dương.

Một trong các hạng mục vi phạm mà Tòa án thực hiện truy tố bao gồm các cá nhân được cho "phạm tội chống lại thường thế." Các hạng mục vi phạm này được định nghĩa là sự vi phạm các hiện trạng thường thế, tham gia lạm dụng công nghệ dị thường, hoặc phá hoại hệ thống bức màn trong tiến hành chiến tranh.

Vi phạm hiện trạng thường thế đề cập tới các hoạt động đi ngược lại các chuẩn mực và phong tục được đặt ra để bảo toàn thường thế, đặc biệt là sử dụng công nghệ dị thường. Bao gồm việc sử dụng vũ khí hoặc các loại công nghệ liên quan khác mà chúng mang khả năng gây hại tới thường thế. Ví dụ như nhận thức độc, tự nhân bản, vũ khí hóa học và sinh học dị thường mang khả năng gây hại hiện trạng thường thế.

Lạm dụng công nghệ dị thường đề cập tới việc sử dụng sai phạm hoặc lạm dụng công nghệ dị thường được cho là vô nhân đạo. Bao gồm công nghệ dị thường được sử dụng không theo mục đích ban đầu, như sử dụng nhận thức độc để diệt chủng thay vì phòng vệ.

Phá hoại hệ thống bức màn đề cập tới các hành động được thực thi để gây hại hoặc phá hủy các hệ thống được xây dựng để che giấu hoặc ẩn đi sự tồn tại của các hiện tượng dị thường. Điều này bao gồm các hành động được thực thi để làm lộ sự tồn tại của các thực thể hoặc hiện tượng dị thường tới công chúng nhằm thay đổi cục diện chiến tranh.

Saibara, Yukina. (2017). Tổ Chức Hậu Chiến tranh Nhật Bản và Tòa án Quân sự Dị thường, Lịch sử Dị thường Châu Á, NXB Sách Chi nhánh Nhật Bản

Mô tả: SCP-045-INT từng là hệ thống quản lý Phạm nhân Cấp D trong Chiến tranh Thái Bình Dương, được xây dựng ban đầu để đối phó với vấn nạn thiếu thốn nhân công, đặc biệt tại khu vực Đông Á, nhằm đảm bảo sự bền vững và phục hồi thường thế sau Thế Chiến Thứ Hai và Huyền Bí Chiến Thứ Bảy. Đông Á từng là khu vực mà Tổ Chức khó đưa ảnh hưởng của mình vào trước chiến tranh. Hiện tượng này còn trở nên tệ hơn sau khi Vương triều Nhật Bản quyết định bãi bỏ Tổ Chức khỏi khu vực Đông Á, một lượng lớn nhân sự với kỹ năng và tài năng dị thường cũng đã được Vương triều Nhật Bản tuyển về hoặc tận diệt trong chiến tranh. Việc Tổ Chức tham gia hoạt động và chiêu mộ lượng nhân sự tồn đọng từ một đế chế đầu hàng hiện vô cùng quan trọng, mặc cho các vi phạm họ phạm phải trong chiến tranh.

Giữa năm 1972 và 2022, năm cuộc điều tra đã được triển khai để thu thập lời khai và tài liệu từ nhân sự liên quan trong SCP-045-INT. Một bản tóm tắt các cuộc điều tra này được đính kèm dưới báo cáo này.


Cuộc Điều Tra Đầu Tiên

Triển khai và phát triển hệ thống

Tổ Chức có nhân sự cộng tác trong hệ thống Hoàng gia Nhật Bản, gồm Ts Saibara. Ts Saibara Kōtarō, một nghiên cứu viên trong Rigaiken, đã tự cách ly bản thân mình khỏi Shūshū-In và nghiên cứu dị thường dưới tư cách nghiên cứu sinh, thực hiện nhiều khai phá khoa học. Trong bối cảnh chủ nghĩa dân tộc gia tăng còn chủ nghĩa tự do bị đàn áp, anh có bí mật liên hệ Tổ Chức và gia nhập ngay sau khi chiến tranh kết thúc.

Gia đình Saibara nổi tiếng là cái nôi của nghiên cứu sinh Shūshū-In Ise Betsuin, là hậu duệ của tộc Imbe (Imibe). Thời kỳ Heian kết thúc, gia đình họ đã đặt trọng tâm nghiên cứu mạnh mẽ, ghi chép tài liệu và các phương thức, để lại nhiều sách vở mô tả rõ ràng các diễn giải của tài liệu Imikura và thực trạng kengi (thử nghiệm). Sau Chiến tranh Ōnin, nhà Saibara tiếp tục ẩn náu sự tồn tại của họ khỏi công chúng. Hiện có nhiều dấu vết về các tài liệu chính thống trước đây bị xóa sổ. Sau chiến tranh, nghiên cứu viên Saibara Kōtarō đã chuyển giao các tài liệu gia đình Saibara mật này cho Tổ Chức.

Các tài liệu mật từ gia đình Saibara cho thấy việc bảo toàn thường thế tại Đông Á đã đến cực điểm, khiến Hội đồng Giám sát thay đổi cách nhìn nhận lạc quan về việc duy trì cân bằng. Vào ngày 11/09/1945, Harold A. Heasman, Cao ủy Đối ngoại Đặc biệt, đã nhận thông tin từ O5-11 về quy định căn bản của Tổ Chức.

Việc bảo tồn thường thế, thay vì lịch sử trước đây hay lợi ích chính trị, vẫn luôn là nhiệm vụ tiên quyết. Dựa trên hiện trạng của xã hội Nhật Bản và tham vọng của Tổ Chức đạt được nhiệm vụ chính của mình với số nhân sự và tài nguyên tối thiểu, Cao ủy Đặc biệt của Tổ Chức cần bảo toàn thường thế thông qua các cơ sở Nhật Bản, bao gồm Shūshū-In, nhằm giúp Tổ Chức đạt được nhiệm vụ của mình. Shūshū-In cần được cấp phép thực thi các hoạt động bảo tồn thường thế thông thường dưới sự chỉ đạo của Cao ủy Đặc biệt. Tuy nhiên, nếu có cơ sở Nhật Bản nào không đủ khả năng để thực thi các yêu cầu bảo toàn, Cao ủy Đặc biệt có quyền và nghĩa vụ yêu cầu thay đổi nhân sự hoặc trực tiếp xử lý.

Các quy định của Nhật Bản về dị thường trước đây đã gây tổn hại lớn tới an ninh của người dân Nhật Bản và đặt họ vào thế khó khăn. Do đó, Shūshū-In cần được sáp nhập vào nền tảng bảo toàn thường thế tại Nhật Bản và chuẩn bị cho việc bị giám sát bởi Hội đồng.

Quy định bảo toàn thường thế căn bản tại Đông Á

Trong một cuộc họp với một trong số bảy lãnh đạo của Shūshū-In 'Houki', Heasman đã đạt được thỏa thuận với Shūshū-In để thêm Hiệp định Nagoya vào Tòa án Đài Bắc dưới dạng một quy định căn bản của Tổ Chức và để loại bỏ các cá nhân tham gia Triển lãm Đài Bắc Nhiệm màu, do mang mối nguy đối với hệ thống Bức Màn.

Shūshū-In cùng Tổ Chức đã tham gia ký kết Hiệp định Nagoya vào ngày 11/09/1945. Hiệp định đã hỗ trợ thiết lập Ban Điều Hành tại Nhật Bản và Chi nhánh Nhật Bant của Tổ Chức, trong đó, Shūshū-In là bên nêu đầu. Hiệp định cũng cho phép các hoạt động của Tòa án Đài Bắc thông qua tài liệu sáp nhập. Vào ngày 31/09/1945, Vùng 81 và Chi nhánh Nhật Bản của Tổ Chức đã được thiết lập.

Như đã nêu trên, phạm nhân Cấp D là nguồn tài nguyên nhân sự cho các nhiệm vụ nguy hại, hiểm hại quan trọng với nghĩa vụ bảo toàn thường thế Đông Á.


Cuộc Điều Tra Thứ Hai

báo cáo về phạm nhân cấp D phản bội

Tài liệu CNĐLT #1961 (Tên Tài liệu: Tadamasa)

medium.jpg

CNĐLT-1961 vào thời gian phục vụ cho Quân đội Hoàng gia Nhật Bản với chức vụ Trung úy

Mã nhân sự: CNĐLT-1961

Cấp độ Hiểm họa: Cam

Tên: Kagawa Tadamasa(賀川 忠正かがわ ただまさ)

Giới tính: Nam

Ngày sinh: 09/12/1916 (Theo lời khai của Kagawa)

Trạng thái: Không rõ, Được cho là đã Tử nạn

Mô tả: CNĐLT-1961 là một Lam thể nam bẩm sinh người Nhật có khả năng sử dụng huyền thuật khu vực rộng, phục vụ cho Đặc Tiểu đoàn Tự trị thuộc Cơ quan Giám sát Dị thể Đế quốc Nhật Bản, hay được biết đến với tên Đặc Tiểu đoàn Yêu quái. Sử dụng huyền thuật, anh mang nhiều đặc tính dị thường, như khả năng biến đổi ngoại hình của bất cứ ai, bao gồm chính bản thân mình hoặc cường hóa khả năng vật lý của bản thân, như phạn xạ và độ nhạy.

Lời khai của anh và các thông tin thu thập được sau chiến tranh nêu rõ CNĐLT-1961 đã sử dụng khả năng của mình để tham gia tích cực nhiều dự án IJAMEA khác nhau, bao gồm Dự án Go-Bạch trạch tại Đài Loan từ những năm 1930 đến những năm 40, gồm Triển lãm Đài Bắc Nhiệm màu, Dự án Miezu và Dự án Takayama.

Năm 1944, ngay sau sự sụp đổ của Vương triều Nhật Bản và giải thể Đặc Tiểu khu Yêu quái, CNĐLT-1961 nghỉ IJAMEA và đầu hàng trước quân lực Đồng minh. Sau đầu hàng, anh đã cung cấp thông tin quân sự cho quân Đồng minh, gồm thông tin về các cơ sở trọng yếu của quân đội Nhật Bản cùng các tài sản bảo mật của IJAMEA.

Thông tin mà anh cung cấp đã giúp quân Đồng minh thực hiện đánh úp các lực lượng quân sự dị thường Nhật Bản, bao gồm Đặc Tiểu đội Yêu quái trong trận đánh Đảo Ramri năm 1945. Sự phối hợp nêu trên đã giúp anh quyền tham gia vào nhiều dự án nghiên cứu khoa học dị thường, dù anh được phân cấp phạm nhân chiến tranh D.

Năm 1946, nhiều vi phạm chiến tranh thực hiện bởi các thành viên IJAMEA được hé lộ và CNĐLT-1961 được liệt làm phạm nhân chiến tranh Cấp D. Vẫn còn nhiều hồ sơ bị xóa hoặc mất đoạn về hoạt động của CNĐLT-1961 trong năm năm sau khi được phân loại làm phạm nhân chiến tranh Cấp D. Tuy chưa thể khẳng định được nhiều thông tin, anh được cho đã làm việc tại một cơ sở chất thải y tế không rõ. CNĐLT-1961 được tin rằng anh được sử dụng cho các công việc tại cơ sở nêu trên, do Hội đồng Tổ Chức vào thời điểm ấy có sử dụng lượng lớn phạm nhân Cấp D cho các hoạt động quản thúc SCP rủi ro cao.

Năm 1953, CNĐLT-1961, người bắt đầu nhận được sự tin tưởng của các cấp giám sát là một phạm nhân cấp D, bắt đầu hoạt động dưới lệnh của Hội đồng Hàn Quốc của Tổ Chức. Anh nắm giữ vai trò nghiên cứu viên. Vào thời điểm này, khi còn ở IJAMEA, CNĐLT-1961 có vẻ đã từng quản lý nhiều dự án nghiên cứu thử nghiệm dị thường, trong đó có thể xác nhận rằng SCP-1108-PA đã được sử dụng để tạo con người với khả năng dị thường, như biến đổi thực tại. Đây là một dự án sản xuất. Anh giữ vị trí nghiên cứu sinh trong vòng ít nhất 20 năm và nắm giữ nhiều nhiệm vụ Tổ Chức khác nhau.

Năm 1976, CNĐLT-1961 đã bị điều chuyển công tác khi Hội đồng Hàn Quốc thực thi tái cấu trúc, khiến dự án và cơ sở của anh sử dụng bị bãi bỏ. Thông tin về dự án này phần lớn đã bị hủy bỏ và lý do chính hiện không rõ. Báo cáo nêu về sự bãi nhiệm của anh có viết về "hành vi lệch chuẩn đạo đức không hợp với đường lối của Tổ Chức" là nguyên do.

Sự bãi nhiệm của CNĐLT-1961 ban đầu được thực thi dưới dạng bãi nhiệm bất kính trong vòng vài năm. Tuy nhiên, một năm sau, CNĐLT-1961 đã gây vi phạm quản thúc quy mô nhỏ, nhân thời cơ hỗn loạn, anh cướp đi thông tin bảo mật từ Tổ Chức và ở ẩn.

Hành tung Gần đây: Lần cuối được thấy tại ██████, Đại Hàn Dân Quốc.

Hành tung: CNĐLT-1961 đã cướp thông tin bảo mật Cấp độ An ninh 3 trước thời điểm bãi nhiệm được định và trốn khỏi Tổ Chức. Hiện CNĐLT được phỏng đoán đầu hành với TLĐLT thù địch, nhưng không có bằng chứng chứng minh điều trên.

CNĐLT-1961 được coi như đã tử nạn, nhưng các hoạt động tìm kiếm tại điểm vẫn được thực thi với ưu tiên thấp.

Ghi chú: N/A



Trích từ Danh sách Phạm nhân Chiến tranh Cấp D Tổ Chức

Bản ghi dưới đây đã được chỉnh sửa sau cái chết của Hiranuma Shinpei vào tháng 10/1964.

Đọc tiếp?






Người xem: Ts Abraham Poulson




Chào mừng.

Tài liệu Nhân sự Tổ Chức SCP

hiranuma.jpg

Hiranuma Shinpei, 1937

Tên: Hiranuma Shinpei
(平沼 進平)
 
Cấp: 3-B
 
Liên kết: Phòng ban Khoa học Tỉnh-81 của Tổ Chức
Phòng ban Khoa học Tổ Chức SCP Chi nhánh Nhật Bản
 
Địa điểm Hiện tại: Điểm-8106
Đã chết.
 
Chức vụ: Trưởng Đội Nghiên cứu 2, Phòng ban Khoa học
 
Học vấn: Cử nhân Khoa học, Đại học Đế quốc Tokyo
Tiến sỹ Khoa học mảng Vi sinh học, Trường Đại học Nhà vua Luân Đôn
 
Đặc điểm Tiêu biểu: Thông thạo bắn súng và đầu kiếm
Được huấn luyện trong quân đội, có khả năng lãnh đạo tốt, có kiến thức sâu rộng về các thực thể dị thường.
Có thể nói tiếng Nga, Hàn, Nhật và Anh.

 
Tiểu sử: [BỊ XÓA] Yêu cầu cấp phép SCP-045-INT để xem.



Hiranuma Shinpei là một Lam thể nam người Nhật từng làm việc cho IJAMEA. Anh chuyên về kéo dài tuổi thọ và huyền thuật thực chiến, điều đã giúp anh dẫn dắt và hỗ trợ nhiều dự án IJAMEA.

Tung tích của Hiranuma Shinpei có thể được truy về tài liệu thu thập được sau khi IJAMEA giải thể. Anh sinh năm 1886 tại Tokyo, là con trai của Hiranuma Katamori, một Nghiên cứu viên Shūshū-In. Được sinh trong một gia đình giàu có, Hiranuma được đào tạo bài bản từ bé. Nuôi trong và là một thành viên Shūshū-In, anh hoàn thành bậc học cơ sở sớm hơn đồng trang lứa và bắt đầu tham gia theo học khoa học tại Đại học Đế quốc Tokyo. Tài liệu có ghi lại rằng việc theo học cấp cao giúp anh trong việc phát triển quy trình quản thúc truyền thống dưới danh nghiên cứu viên.

Sau khi rời khỏi Shūshū-In vào năm 1909, Hiranuma tham gia IJAMEA và hỗ trợ dự án thứ nhất và thứ ba, Bạch trạch, được triển khai trong nhiều năm. Kinh nghiệm của anh tại Shūshū-In đã giúp anh mang hiệu năng hơn hẳn. Nhờ đó, anh được thăng chức thành Thiếu tá và được chuyển giao cho Cơ sở Nhà Triều Tiên của IJAMEA. Nhiều đợt thăng chức sau đã diễn ra nhờ các thành tựu của anh, như cuộc điều tra về thôn Soŭl năm 1912 và Đại Làng Jangseung năm 1915. Tuy nhiên, tài liệu cũng cho thấy rằng nhiều dị thể hình người bị quản thúc tại các cơ sở của IJAMEA được đưa vào các cuộc thử nghiệm vô nhân tính, một số bị ép tham gia dự án IJAMEA trái với nguyện vọng của họ. Nhóm đáng lưu tâm nhất là con chiên của Seŭlgaites và Sushindo,1 với nhiều con chiên được liệt vào danh sách phạm nhân chiến tranh Cấp D.

Vào những năm 1920. Hiranuma tạm ngưng làm việc cho IJAMEA và trở thành sinh viên bậc sau đại học tại Trường Đại học Nhà vu Luân Đôn, Anh Quốc. Hiện động cơ của anh được phỏng đoán tiếp cận và xây dựng mối quan hệ hợp tác với Cục Tình báo Bảo mật UK. Từng tham gia nghiên cứu về vi sinh học, Hiranuma ngoài ra cũng đã tham gia nhiều dự án nghiên cứu khác nhau trong mảng bệnh lý và nhiễm trùng học, giúp anh vũ khí hóa các thực thể dị thường liên quan cho Đế quốc Nhật Bản.

Sau năm năm học tập, anh trở về Nhật Bản và được điều chuyển qua căn cứ Kurishima tại Kurishima,2 Tỉnh Okinawa. Hiện Hiranuma được phỏng đoán học được phép kéo dài sinh mệnh, thu thập và sử dụng nhiều phương thức huyền thuật và dị thể khu vực. Anh cũng thực hiện nghiên cứu dị thường trên các dị thể hình người và phạm nhân còn nhận thức. Nhờ các nỗ lực của anh từ năm 1926 đến năm 1931, anh đã được thăng chức lên làm Đại tá.

Sau thời kỳ này, anh có làm việc trong một khoảng thời gian ngắn trên lục địa Nhật Bản. Sau đó, anh được điều chuyển qua Căn cứ IJAMEA Kyeongseong tại Nhà Triều Tiên. Một sự kiến đáng lưu tâm là một cuộc tấn công khủng bố vào cơ sở Kyeongseong vào năm 1935, một năm sau khi anh được điều chuyển. Hiranuma và nhiều nhân sự khác đã bị thương sau cuộc tấn công. IJAMEA tuy đã thành công hãm chế sự kiện nói trên, nhưng bộ máy quản trị của IJAMEA cũng đã chịu thương tổn. Tài liệu cho thấy Hiranuma có quen kẻ tấn công, Nikaho Hanno, tuy nhiên việc anh có liên quan tới cuộc nổi loạn hay không thì chưa rõ.

Cuộc tấn công trên đã thay đổi hành vi của Hiranuma mạnh mẽ. Tài liệu có ghi anh bắt đầu hành động bốc đồng và dễ xúc động, thực hiện bố trí một cuộc điều tra Gia đình Nikaho và tự gặp Nikaho Hanno khi anh bị bắt một năm sau cuộc tấn công. Các hành vi bốc đồng tiếp tục duy trì sau cuộc bảo loạn Cơ sở Kurishima năm 1939 (nơi Nakano bị hỏa thiêu). Hiện bộ máy cầm quyền IJAMEA được phỏng đoán tàn tạ dần từ thời điểm này.

Năm 1941, trong một cuộc tìm kiếm không gian dị thường không rõ trước đây, Sangmyeong-dong tại Kyeongseong-bu đã được tìm thấy, Nhà Triều Tiên - Myeongcheon-gu thời nay3, Seoul. Vào thời điểm ấy, địa điểm này được định cư bởi các các phạm nhân chính trị và thực thể dị thường tị nạn. Hiranuma được điều động tới đây. Lý do cho hành động này được phỏng đoán là do chính trị, do Hiranuma sau đó đã bị phạt vì 'thất bại chiến lược' ngắn ngày sau khi được điều động.

Năm 1944, Hiranuma bắt đầu hợp tác với quân Đồng minh, liên hệ các đặc vụ SIS phía Anh Quốc cũng như cung cấp thông tin tình báo quân sự bảo mật cho Đồng minh và Tổ Chức. Mối liên kết này đã cho phép gia đình Hiranuma được nhập cư vào Vương Quốc Anh bí mật. Riêng Hiranuma vẫn tiếp tục lưu trú tại Nhật Bản, hỗ trợ công việc cho Mật thám Đồng minh. Hoạt động ấy giúp anh được tuyển vào Tổ Chức ngay sau khi CTTG thứ Hai kết thúc.

Năm 1946, Hiranuma Shinpei được phân loại thành phạm nhân chiến tranh cấp D. Tuy nhiên, anh không bị đối mặt với các hành quyết nhờ vào hỗ trợ của anh. Hiranuma được bổ nhiệm tới Vùng 81 ngay sau khi được tuyển vào. Sau khi chi nhánh Nhật Bản chính thức được thiết lập, anh được chuyển qua làm việc và di chuyển đến những điểm đầu tiên của chi nhánh.

Anh không thường bị Phòng ban An ninh Nội bộ để ý tới. Tuy nhiên, anh từng bị phát hiện bởi máy quay an ninh thực hiện xóa bọ phân loại phạm nhân chiến tranh cấp D của mình vào năm 1960. Hiranuma không bị kỷ luật, tuy nhiên sau khi anh chết, anh bị phát hiện thực hiện chỉnh sửa và che dấu các thông tin bất lợi về anh.

Năm 1964, Hiranuma Shinpei được tìm thấy đã bị giết trong Nhà riêng IJAMEA cũ. Công cụ gây án là một thanh kiếm quân đội IJAMEA tại hiện trường. Điều tra kết luận vụ án không liên quan tới Tổ Chức và kết thúc điều tra.

Điều tra thực hiện bởi Phòng ban An ninh Nội bộ sau cái chết của Hiranuma tìm thấy nhiều mẩu thông tin ẩn, sau đó đã được phục hồi. Thông tin bổ sung nói trên được tổng hợp trong tài liệu này.


Cuộc Điều Tra Thứ Ba

Những cá nhân được ân xá/không chịu hành án

Lực lượng Y tế Đặc biệt Quân đoàn Hoàng gia Nhật Bản (IJASMF, Đội Số Âm) là một đội quân đặc biệt được thành lập vào năm 1937.

Được sáng lập bởi Ashibune Tatsuomi, IJASMF là một đội trực thuộc Quân đội Hoàng gia Nhật Bản với mục đích nghiên cứu dị thường, thần bí. Ashibune Tatsuomi được phong chức Trung tá bởi IJA và thành lập IJASMF cùng thuộc hạ của mình ở Shūshū-In, Kido Yoshihiko, cùng hai nghiên cứu viên khác được mời, Yomoda Tomio và Ada Beatrix Babbage.

Sau khi xem xét nhiều tài liệu khác nhau, tôi đã đưa ra kết luận rằng IJASMF từng thực hiện phát triển công nghệ binh sỹ bất tử, sử dụng các phương thức vô nhân đạo để xem cực hạn của con người khi đối mặt với các dị tính, sử dụng thành viên và người dân bản địa cho những nhiệm vụ nguy hiểm.

Nghiên cứu gần đây cho thấy vào giữa năm 1941 và 1942, Y-909 được sử dụng để gây hại nhận thức của các binh sỹ địch, gây đến gần 5,000 người thiệt mạng, trong đó gồm người của Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc và Ấn Độ, cùng các binh sỹ tự nguyện khu vực trong Chiến dịch Singapore và Phillippines.

Kamikase, Takayuki. (2020). Giải phẫu Dị thường và IJASMF, SHocDThuong, Hiệp hội Sinh học Dị thường, Nhật Bản

Cuối Chiến tranh Thế giới Thứ Hai, nhiều cá nhân liên quan tới tổ chức này không bị hành quyết bởi Tòa án Đài Bắc nhờ một số thỏa thuận đạt được với Tổ Chức và UNGOC, nhiều trong số đó tiếp tục làm việc cho Tổ Chức, UNGOC và nhiều cơ sở hậu chiến tranh khác có mục tiêu bảo toàn thường thế. Cùng lúc đó, một lượng cá thể cường hóa vật lý tham chiến trước đây đã bị định danh và hành án thành phạm nhân chiến tranh Cấp D.

Ts Ada Beatrix Babbage từng là một nghiên cứu viên đam mê cái chết. Sự lưu tâm của cô trong mảng này bắt nguồn từ khi cô còn bé và mất đi anh trai mình do nhiễm một loại bệnh bí ẩn mà không thể được chẩn đoán. Nhưng cái chết ấy lại đi theo sự mê hoặc lạ kỳ. Trong đôi mắt của đứa trẻ vô tội ấy, nó là thứ gì đó rất bất chợt và đầy hứng thú, nằm ngoài tầm hiểu biết của nó. Cô bỏ ra hàng giờ theo dõi nhịp thở của anh trai mình, cô gọi đó là cô đang chăm sóc ảnh, khi hơi thở cậu ấy yếu dần. Cô chỉ ăn một mình trước mặt anh trai, kể cả khi mẹ cô yêu cầu cô về phòng ăn ăn. Đối với tôi, đó không phải cô ấy đang theo dõi anh mình. Cô tự ghi chép lại thân nhiệt ảnh mỗi năm phút và cẩn mẩn làm biểu đồ cho nó với những cột cao thấp bất thường. Cô đang ngắm nhìn con đường tới tử thần. Cô nói rằng cô còn cảm thấy hưng phấn lạ kỳ khi được chứng kiến sự sụp đổ của nội môi. Cảm giác này lóe lên trong cô sự tò mò và hi vọng được mở ra cánh cửa bí ẩn, điều đưa cô theo đuổi ngành sinh học.

Cô tới Mỹ để tiếp tục học vấn của mình. Cô thực hiện các thử nghiệm vô nhân đạo được thiết kế để nghiên cứu ảnh hưởng của dị thường lên não bộ con người trong Trường Thực tại gây lỗi sao chép di truyền và bệnh lý tâm thần. Tuy nhiên, những thử nghiệm này đã khiến nhiều người thiệt mạng, gần 100 gia đình bị ảnh hưởng. Dù cô có nhiều kiến thức sinh học, cô đã bỏ qua việc cân nhắc nhân đạo và nhân tính để theo đuổi mục tiêu tri thức.

Bị truy bắt bởi tổ chức bảo vệ thường thế vì các hoạt động vô nhân tính, cô chạy trốn đến Nhật Bản và tham gia vào IJASMF, một tổ chức đối phó các hiện tượng dị thường trong Thế Chiến Thứ Hai. Dù mang nặng quá khứ, cô vẫn quyết tâm thực hiện tiếp nghiên cứu của mình, sử dụng kiến thức sinh học cô có để hỗ trợ nhiệm vụ của IJASMF. Ashibune hiểu rõ rằng cô là chuyên gia về cái chết sinh học và dị thường, tin rằng kiến thức về cái chết là cần thiết để mở khóa sự bất tử cho nhân loại.

Rồi Tổ Chức làm gì sau chiến tranh? Tổ Chức không hành án cổ. Cô ấy sống sót, được tuyển về làm cho Tổ Chức một thời gian, trốn thoát khỏi Tổ Chức và giờ ta cũng không rõ hành tung của cô. Nói thật thì, đúng là một lựa chọn sai lầm..

Suenaga, Katsuyosi. (1968). Âm vang Thét gào, Nhà Xuất Bản Sinano Chuo

Nhiều các nhân khác có liên quan tới các sự cố chiến tranh nghiêm trọng đã được ân xá, một vài trong số đó vẫn tiếp tục bảo toàn thường thế.


Cuộc Điều Tra Thứ Tư

Hồ sơ Đại diện về Mức độ Hiểu quả của Cấp D và các Trường hợp Tuyển dụng Ngoài luồng

Trích từ Báo cáo Phục hồi Thảm họa Dị thường có sự Tham gia của Phạm nhân Cấp D

Báo cáo Bổ sung về Quân nhân Hoàng gia Nhật Bản người Đài Loan Mất tích Trước đây và được Tìm thấy vào ngày 29/03/1947

Ts. Nakai Hiroshi 中井廣
14/07/1953


Đội của chúng tôi đã thiết lập các hoạt động phục hồi thảm họa dị thường tại Trung Quốc đại lục từ đầu năm 1947. Dưới sự chỉ đạo của Nhà Viễn Đông thuộc GOC và Chi nhánh Viễn Đông Tạm thời của Tổ Chức, vào tháng Hai, đã được cử đến Thượng Hải, nơi chúng tôi sẽ thực thi điều tra, gỡ bỏ và phục hồi các dị thường bị rải hoặc bỏ lại trong thời chiến. 26/03, chúng tôi nhận một báo cáo về một cơ sở quân sự cộng sản tại Nam Kinh bị dị thể tấn công, khiến nhiều người thiệt mạng nghiêm trọng. Do khoảng cách không xa, chúng tôi là nhóm đầu tiên đối phó với sự kiện trên.

Dưới đây là một chuỗi các ghi chú về Hoạt động Ứng phó Hiểm họa Dị thường vào khoảng thời gian ấy:




Trích từ Bản ghi Tuyển dụng Cấp D Ngoài luồng tại Trung Quốc đại lục

Thông tin bổ sung

Đài Loan là hòn đảo bị chiếm đóng bởi Đế chế nhà Thanh Trung Quốc, rồi bị xâm lược bởi Đế quốc Nhật Bản từ năm 1895 đến năm 1945. Từ khi Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến vào năm 1942, Quân đội Đế quốc Nhật Bản đã triển khai Hệ thống Từ nguyện Đặc biệt để tuyển nhân dân Đài Loan tham chiến nhiều trận mạc. Sau khi Đế quốc Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945, một số người Đài Loan không thể quay về Đài Loan và Nhật Bản cùng quân đội Nhật bại trận vì Nhật Bản đã bỏ độc chiếm Đài Loan cho Trung Hoa Dân quốc (T.H.D.Q). Những người này bị bỏ lại các điểm, đặc biệt là tại Đông Nam Á, bị bắt giữ bởi Anh Quốc, Úc, Hà Lan và nhiều Đồng Minh khác.

Lực lượng ở lại Đông Nam Á không hẳn không dị thường. Tháng 07/1946, một số binh sĩ với khả năng dị thường đã được chuyển về Đài Loan, đợi hầu Tòa án Đài Bắc. Biết về sự tồn tại của lực lượng dị thường trên, T.H.D.Q đã lợi dụng mù mờ thông tin từ Bức Màn, bí mật đánh cắp nhân lực trên và cử họ tham chiến trong cuộc Nội Chiến Trung Quốc chống lại cộng sản. Hoạt động trên được giấu đi bởi cả GOC và Tổ Chức.

Năm mươi hai binh sĩ bị bắt bởi T.H.D.Q đã khiến sự kiện Nam Kinh xảy ra, khi họ tấn công một cứ điểm quân sự cộng sản. Một trong số họ, theo báo cáo của họ, đã phát điên sau khi phá hủy cứ điểm, rồi giết hại dã man chỉ huy cùng giám sát viên của họ, tạo cơ hội cho họ trốn thoát. Mười sáu binh sĩ được tìm thấy sống sót. Tất cả đều có biểu hiện áp lực tham chiến với nhiều mức độ và bệnh tâm thần khác nhau. Toàn bộ đều chấp nhận lời mời của Tổ Chức, tham gia làm nhân sự Cấp D với "mong muốn rửa tội đã thực hiện tại Đông Nam Á."

Dưới dây là đoạn phỏng vấn thực hiện tại Thượng Hải với một trong số binh lính vào ngày 10/04/1947:



Chính phủ T.H.D.Q đã hứng chịu nhiều tai tiếng khi vụ việc bắt cóc và tái điều động phạm nhân như quân cờ tạo thảm họa dị thường bị phanh phui. Điều này khiến cho Tổ Chức và T.H.D.Q bất hòa trong khoảng thời gian ngắn, hai bên hoạt động độc lập hoàn toàn cho đến khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, khi ấy Tổ Chức đã bị đuổi khỏi Trung Quốc đại lục lần nữa bởi chính quyền Liên Xô. Nhưng mối quan hệ hai bên vẫn khó mà lành hoàn toàn cho đến những năm đầu 1990.

Bình luận của Lee Teng-hui, Trưởng RAISA-ZH vào thời ấy


Trích từ Tái Điều tra Hồ sơ Phạm nhân Chiến tranh Cấp D Từng Phục vụ Điểm-168 của Chi nhánh ZH.

Một nhóm gồm 60 Binh sĩ Đế quốc Nhật Bản gốc Đài Loan bị bỏ lại bởi Hoàng gia Nhật Bản tại Đông Nam Á. Ba trong số họ đã thiệt mạng trong nhà tù Indonesia, năm người qua đời trong quá trình quay về Đài Loan, 36 người đã bị giết hại, tự tử hoặc mất tích trong công cuộc tấn công Nam Kinh, cùng 15 người mất tích trong các nhiệm vụ Cấp D. Người cuối cùng còn xót lại, Chen Chao-Tsai(陳朝才) đã có đóng góp rất lớn trong vụ việc vi phạm quản thúc quy mô lớn tại Điểm-168 năm 1969, đã được đặc biệt cho tự do. Tuy nhiên, cuộc sống sau khi tự do của anh không mấy thoải mái, vì anh đã bị bắt giam bởi Bộ Tư lệnh Đồn trú Đài Loan với các cáo buộc giả mạo vào năm 1973, anh không được rời khỏi tù cho đến khi anh qua đời vào năm 1986.

Ts Karl Grisham
28/01/1990


Cuộc Điều Tra Thứ Năm

Bản Ghi nhớ Kurusu

Hệ thống phạm nhân Cấp D tồn tại trong vòng 70 năm sau chiến tranh nhưng dần được thay thế vì tuổi thọ của các phạm nhân; hệ thống dần không phù hợp với hiện trạng và được thay thế bởi nhân sự Cấp D thông thường. Nhiều phạm nhân chiến tranh Cấp D cũng không được chịu án và một số thành công trốn thoát khỏi Tổ Chức, chứng minh lỗ hổng của hệ thống này.

Các điều tra hiện thời không thấy dấu hiệu tổn hại mạng sống bất công hoặc phi pháp của các phạm nhân chiến tranh Cấp D gây ra bởi nhân sự Tổ Chức trong thập kỷ qua. Các hoạt động thi hành thường tuân theo bộ quy định đạo đức của Tổ Chức, nhưng các hệ thống hỗ trợ y tế và tâm thần không được cung cấp đầy đủ. Nhân sự quản lý các cơ sở quản thúc thường tuân theo hoặc cân nhắc kỹ lưỡng các khuyến nghị từ Ủy ban Đạo đức.

Trước những năm 1970, có nhiều điểm và cơ sở sử dụng biện pháp thúc ép cưỡng chế điều lệnh các phạm nhân chiến tranh Cấp D tham gia vào các nhiệm vụ nguy hiểm. Một lượng lớn phạm nhân chiến tranh Cấp D được phân công những công việc khá dễ dàng, trong đó phần còn lại được huấn luyện và ép thực thi nghĩa vụ khắt khe, khiến việc tuân lệnh là một thói quen. Trong một số nhiệm vụ, việc tuân lệnh không điều kiện trong thời bình được áp dụng bằng kỷ luật và hình phạt nặng, khắt khe. Một số bị liệt vào phương pháp này thường đến từ Nhật Bản, nhưng đa số sẽ là các binh sĩ và công nhân cấp thấp.

Cùng với cuộc điều tra thứ năm, Kurusu Sakuya, một giám sát viên bảo mật của Ủy ban Đạo đức Tổ Chức, đã đăng tải một bản ghi nhớ lên Ủy ban Đạo đức và Hội đồng Giám đốc, lên án hệ thống SCP-045-INT..

Theo ý hiểu của tôi về IJASMF, một lượng nhỏ phạm nhân thuộc các cấp bậc cao đã được thi hành án, nhiều người khác thì được đặc cách thi hành án. Một số nhân sự chủ chốt của IJAMEA đã hầu tòa và bị kết tội, nhưng lại nhận hình phạt thấp hơn các tội nhân thí nghiệm và công nhân, những người có thể, được coi là nạn nhân. Một cuộc điều tra trước đây của Ủy ban Đạo đức Tổ Chức đã cho thấy nguyên do là do họ đã được liệt vào danh sách nhân sự Tổ Chức dưới dạng ký kết lao động với Tổ Chức và Tổ Chức cần họ.

Lý do thiết lập hệ thống Cấp D là để xử phạt những phạm nhân chống lại thường thế, nhưng sự thật là hệ thống đang nhắm tới buông tha cho nhiều phạm nhân và hoạt động như một cơ sở cung cấp nguồn nhân lực. Nên hệ thống Cấp D, thuộc hệ thống quản thúc, là không hợp lệ.

Hệ thống Cấp D được xây dựng dựa vào phạm nhân Cấp D, nhưng ngày nay đã được mở rộng, với tên gọi nhân sự Cấp D. Nhiều nghiên cứu viên và đặc vụ, bao gồm những người vượt qua bài kiểm tra trung thành, đã báo cáo việc hệ thống này khó sử dụng về mặt tình. Thêm vào đó, nguồn cung bền vững dạng nhân sự này vô cùng khó đáp ứng ở một số quốc gia.

Con người không thể chịu những cái chết vô nghĩa, nên họ biến những 'cái chết' vô nghĩa thành những 'hi sinh' đáng trân trọng. Những kẻ cầm đầu chơi bài nạn nhân để tách chúng khỏi tội ác của mình. Nạn nhân gán mình với mác 'tử đạo' khi hợp sự tổn thương của mình vào bản thân. Hoạt động này đã nạn nhân hóa thủ phạm và đóng chặt nhận thức tối quan trọng về khả năng bản chất thủ phạm tiềm tàng trong nạn nhân. Biện minh đạo đức mà không có sự soi xét cẩn mật từ đầu cần kết thúc. Tổ Chức cũng phại tự kiểm điểm về hành động của mình về SCP-045-INT và nhận thức sự tàn phá mà họ gây ra.

Kurusu, Sakuya. Bản Ghi nhớ Kurusu.

Nếu không có ngoại lệ được nêu, nội dung của trang này được xuất bản dưới giấy phép Ghi nhận Đóng góp – Chia sẻ với Điều kiện Như nhau 3.0 (CC BY-SA 3.0)